- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty Tiền có N tranh chấp vay tài sản với Thạch Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad Tiền có N. Buộc anh Thạch Văn H phải trả cho Công ty cổ phần Sawad Tiền có N số tiền vốn và lãi đến ngày 13/8/2024 là 61.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2024/DS-ST Ngày 13 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Nguyễn Hoài Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 448/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần SAWAD TIỀN CÓ N; địa chỉ: Số 128 ND, phường BT, thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT
Người đại diện theo uỷ quyền là ông Trần Thanh T, sinh năm 1989 – Nhân viên công ty (Theo văn bản uỷ quyền ngày 01/6/2024 – vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Thạch Văn H; Sinh năm: 1989; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TAKĐ, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad Tiền có N trình bày: Vào ngày 22/6/2020 anh Thạch Văn H có cầm cố và thế chấp tài sản với công ty trách cổ phần Sawad Tiền có N chi nhánh Cà Mau (sau đây gọi tắt là công ty) theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ký ngày 22/6/2020. Tài sản cầm cố là một xe mô tô hai bánh hiệu YAMAHA, biển số 69F1- 4.76-71, giấy chứng nhận đăng ký xe do anh H đứng tên cấp ngày 14/9/2018. Số tiền cầm cố là 39.900.000 đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng, mục đích cầm cố để tiêu dùng cá nhân và kinh doanh. Lãi suất cầm cố 1,1%/tháng, phí quản lý hồ sơ 4%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150%/lãi suất trong hạn, phí phạt vi phạm kỳ hạn trả nợ trên dư nợ thực tế chưa đến hạn. Do nhu cầu đi lại phục vụ công việc nên N ngày cầm cố anh H đã xin mượn lại chiếc xe và cam kết theo nội dung giấy mượn xe, thời hạn mượn một tháng từ ngày 22/6/2020 đến ngày 22/7/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng anh H đã trả cho công ty số tiền vốn là 4.643.984 đồng, lãi 850.385 đồng, phí 3.092.310 đồng, tiền lãi quá hạn 150% trong hạn là 555.321 đồng, tổng trả 9.142.000 đồng. Sau đó anh H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng. Nay công ty yêu cầu anh H phải trả cho công ty số tiền tính đến ngày xét xử: Vốn 35.256.016 đồng, tiền lãi trong hạn 1,1% tính từ ngày chậm thanh toán ngày 22/9/2020 đến ngày kết thúc hợp đồng là ngày 22/6/2021 là 3.878.162 đồng, tiền lãi quá hạn 150% trong hạn tiwnhs từ ngày 10/3/2021 đến ngày 13/8/2024 là 41 tháng x 1,655 = 21.911.613 đồng, tổng yêu cầu là 61.045.791 đồng, các yêu cầu khác không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Thạch Văn H: Không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của công ty.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Thanh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Thạch Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về phạm vi khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án công ty thay đổi yêu cầu khởi kiện về viêc không yêu cầu anh H trả lại xe và thay đổi một phần tiền lãi suất quá hạn 150% trong hạn từ ngày 23/6/2021 đến ngày 13/8/2024, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kết kể từ ngày xét xử cho đến khi thanh toán nợ. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu này của công ty là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên được chấp nhận.
Về nội dung vụ án: Công ty cổ phần Sawad Tiền có N khởi kiện yêu cầu anh Thạch Văn H phải trả cho công ty số tiền anh Xuyên còn nợ công ty theo hợp đồng cầm cố anh H đã ký kết với công ty vào ngày vào ngày 22/6/2020. Quá trình giải quyết vụ án anh H không phản đối yêu cầu khởi kiện của công ty. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét nội dung khởi kiện của công ty thấy rằng: Theo các tài liệu công ty cung cấp cho Tòa án thể hiện: Vào ngày 22/6/2020 anh H có ký kết hợp đồng cầm cố với công ty, theo đó anh H có cầm cố một xe máy cho công ty để vay số tiền vốn là 39.900.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng đến ngày 22/6/2021, kèm theo các khoản lãi suất theo hợp đồng. Xét thấy, khi anh H giao dịch ký kết hợp đồng cầm cố với công ty là do tự nguyện, có kèm theo tài sản cầm cố, nội dung ký kết hợp đồng, lãi suất phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự. Trong quá trình vay anh H đã vi phạm nghĩa vụ theo nội dung hợp đồng đã ký kết. Do đó, công ty khởi kiện yêu cầu anh H phải trả số tiền vốn, lãi đến ngày xét xử số tiền 61.045.791 đồng là có căn cứ được chấp nhận.
Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của anh H nêu trên hiện nay công ty đang giữ nên buộc công ty phải trả lại cho anh H là phù hợp.
Đối với chiếc xe máy anh H cầm cố cho công ty nhưng N khi ký hợp đồng anh H đã mượn lại và sử dụng cho đến nay, công ty không đặt ra yêu cầu gì đối với xe này nên không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh H phải chịu án phí tương ứng số tiền phải trả cho công ty. Công ty không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244, và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad Tiền có N. Buộc anh Thạch Văn H phải trả cho Công ty cổ phần Sawad Tiền có N số tiền vốn và lãi đến ngày 13/8/2024 là 61.045.791 đồng (sáu mươi mốt triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi mốt đồng).
Kể từ ngày Công ty cổ phần Sawad Tiền có N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Thạch Văn H không chịu trả số tiền trên, thì hàng tháng anh Thạch Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Buộc Công ty trách cổ phần Sawad Tiền có N phải trả cho anh Thạch Văn H giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 035769, biển số đăng ký 69F1-47671.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Thạch Văn H phải chịu 3.052.289 đồng (ba triệu không trăm năm mươi hai nghìn hai trăm tám mươi chín đồng). Công ty cổ phần Sawad Tiền có N không phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Sawad Tiền có N số tiền đã nộp tạm ứng là 3.402.000 đồng (ba triều bốn trăm lẽ hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001435 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Biện Thị Nhung |