- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Sơn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Võ Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2022/HS-ST Ngày 16-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thị Thúy Hảo
Bà Phan Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2022/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Võ Văn S, sinh năm 1967 tại tỉnh Bình Định; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 141/20 đường A, phường B, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Võ L (đã chết); Mẹ: Lê Thị Ch (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt).
Bị hại: Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: 141/26 đường A, phường B, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn S và ông Đinh Văn Đ (SN: 1963, nơi thường trú: 141/26 đường A, phường B, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) là hàng xóm của nhau, cả hai có mâu thuẫn về việc di dời trụ điện tại địa chỉ 141/20 đường A, Phường B, TP Vũng Tàu từ năm 2016 nên thường xuyên lời qua tiếng lại. Khoảng 6 giờ ngày 02/6/2022, S và ông Đ tiếp tục cãi nhau thì được mọi người can ngăn. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, S đang ở trong nhà thì thấy ông Đ điều khiển xe mô tô đi tới trước địa chỉ 141/24 đường A. Do vừa cãi nhau xong, vẫn còn bực tức, S đã chạy vào bếp lấy cây kéo dài khoảng 21,5 cm, lưỡi kéo dài 10,5cm, cán bọc nhựa màu đỏ- xám, chạy ra, chặn xe ông Đ, dùng kéo đâm nhiều nhát vào người ông Đ. Khi gia đình ông Đ phát hiện sự việc, chạy ra can ngăn thì S bỏ về. Hậu quả: Ông Đ bị thương được gia đình đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Vũng Tàu. Cùng ngày, Võ Văn S đến công an Phường 3, TP. Vũng Tàu đầu thú, thừa nhận hành vi như trên.
Ngày 03/6/2022, ông Đ làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án gửi đến Công an TP. Vũng Tàu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 222/TgT ngày 13/6/2022 của trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết khâu da ở mặt, khả năng lành sẹo nhỏ.
- 01 vết khâu da khả năng sẹo trung bình (ở cánh tay).
- 01 sẹo nhỏ ở niêm mạc miệng.
- 01 vết khâu da khả năng lành sẹo nhỏ (ở ngón tay).
- 01 sây xát da khả năng lành đổi mau da (ở gối).
2.Về vật gây thương tích, cơ chế hình thành vết thương:
- Thương tích 1,2,3: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, hoặc vật cứng sắc nhọn, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng như sau: Thương tích 1 và 3: Từ trước ra sau; Thương tích 2: Từ phải sang trái; Thương tích 4: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau.
3. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 08% (tám phần trăm).”
Tại Cơ quan điều tra, Võ Văn Sơn đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vũng Tàu tạm giữ: 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21,5cm, cán bọc nhựa màu đỏ - xám, lưỡi kéo dài 10,5cm, trên thân kéo có in dòng chữ STAINLESS STEEL. Vật chứng này được niêm phong. Hiện Cơ quan CSĐT công an TP. Vũng Tàu đã chuyển vật chứng này sang Chi cục Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu bảo quản, chờ xử lý.
Cơ quan CSĐT Công an TP. Vũng Tàu thu giữ 01 đĩa DVD bên trong có chứa đoạn camera ghi lại diễn biến vụ án. Vật chứng được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có dấu và chữ ký của Phó trưởng Công an phường 3 Trần Kim X, chữ ký người lập biên bản Nguyễn Huy D và người chứng kiến Nguyễn H. Vật chứng này tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án để làm chứng cứ (BL: 35-37).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Văn Đ không yêu cầu bị can Võ Văn S bồi thường dân sự.
Bản cáo trạng số 220/CT-VKS ngày 26/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Võ Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm i,s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21,5cm, cán bọc nhựa màu đỏ - xám, lưỡi kéo dài 10,5cm, trên thân kéo có in dòng chữ STAINLESS STEEL.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của người bị hại; phù hợp với kết luận giám định pháp y, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng hơn 7 giờ 30 phút ngày 02/6/2022, tại trước địa chỉ 141/24 đường A, phường B, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Võ Văn S đã có hành vi dùng kéo dài khoảng 21,5 cm, lưỡi kéo dài 10,5cm, cán bọc nhựa màu đỏ- xám đâm nhiều nhát vào người ông Đinh Văn Đ gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 08% (tám phần trăm).
Như vậy, bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là cây kéo để gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích hiện tại gây ra là 08% (tám phần trăm) nên hành vi nêu trên của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có nhận thức về pháp luật, xã hội. Bị cáo biết và ý thức được hành vi dùng hung khí gây thương tích cho người khác là nguy hiểm song bị cáo vẫn thực hiện nên cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình; Bản thân bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, làm nghề bốc vác và đã được UBND Phường 5, TP Vũng Tàu tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn Phường 5; Bị cáo có anh trai được Chủ tịch nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang, huân chương chiến công hạng 3. Vì vậy áp dụng điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Đinh Văn Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21,5cm, cán bọc nhựa màu đỏ - xám, lưỡi kéo dài 10,5cm, trên thân kéo có in dòng chữ STAINLESS STEEL là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Võ Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Võ Văn S: 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2022.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái kéo bằng kim loại, dài 21,5cm, cán bọc nhựa màu đỏ - xám, lưỡi kéo dài 10,5cm, trên thân kéo có in dòng chữ STAINLESS STEEL.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 232/BB.THA ngày 31/8/2022.
4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thành phố Vũng Tàu; - Công an thành phố Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Thu Nga |