vanban.org

Bản án 243/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 17/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy B và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2021/HS-PT
Ngày: 17/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Sơn;

Ông Nguyễn Huyền Cường.

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân cấp

cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Lê Hồng

Phong - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội,

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 336/2021/TLPT-HS ngày 20 tháng 4 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Duy B và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị: Phạm Duy B, sinh năm 1990; Nơi

ĐKHKTT và nơi ở: số 67 C, phường C, quận HK, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Duy Ph, sinh năm 1957 và con bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1962; có vợ Nguyễn Thị TD và có 02 con; tiền án, tiền sự: 02 tiền án:

+ Bản án HSST số 201 ngày 29/09/2009, Tòa án nhân dân huyện Đông

Anh, Hà Nội, xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ra trại ngày 25/05/2014.

+ Bản án HSST số 56 ngày 29/03/2017, Tòa án nhân dân quận Đống Đa,

Hà Nội, xử phạt 28 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ra trại ngày 20/10/2018.

Bị bắt ngày 04/6/2020, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 01 - Công

an thành phố Hà Nội.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị H- Văn phòng luật sư

Nguyễn Anh, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như

sau: Khoảng 17 giờ 30 ngày 04/06/2020, tại khu vực trước số nhà 751 phố Hồng Hà, phường C, quận HK, Hà Nội, Công an quận HK nghi ngờ Phạm Duy B có liên quan đến ma túy nên đã đã dừng xe, kiểm tra, phát hiện và thu giữ phía trong cạp quần B mặc có 01 túi nilông chứa tinh thể màu trắng. Ngoài ra Công an còn thu giữ của B 01 điện thoại di động Iphone sử dụng số thuê bao 0989.668.007; 01 xe máy SH màu trắng, BKS: 29D1 - 72911.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Duy B tại số 67 C, quận HK, Hà Nội,

thu giữ:

- Trên mặt bàn uống nước trên gác xép: 01 lọ thủy tinh hình trụ bên trong

có: 01 túi nilông màu xanh chứa 100 viên nén hình tròn màu hồng; 01 túi nilông chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilông chứa tinh thể màu hồng; 01 túi nilông chứa chất bột màu vàng;

- Trong ngăn tủ trên gác xép: 01 bao diêm bên trong có 01 túi nilông chứa

chất bột màu trắng;

- Trong két sắt tầng 2: 200 triệu đồng;

- Dưới gầm bếp tầng 4: 01 hộp bánh hình tròn, bên trong có: 02 túi nilông

chứa tinh thể màu nâu; 01 túi nilông chứa chất bột màu xám; 02 túi nilông chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilông chứa 20 viên nén màu xám; 01 túi nilông chứa 20 viên nén màu xanh nước biển; 01 túi nilông chứa 60 viên nén màu xanh nước biển; 01 lọ nhựa chứa 30 viên nén hình tam giác màu xanh lá cây;

- Trên mặt thùng rác ngoài cửa phòng ngủ tầng 4: 01 hộp sắt chứa chất bột

màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định số 4520 ngày 11/6/2020, Phòng Kỹ thuật hình

sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

- Bên trong 01 túi nilông thu giữ khi bắt quả tang: Tinh thể màu trắng là ma

túy loại Methamphetamine, khối lượng 19,494 gam.

- Bên trong 01 lọ thủy tinh thu giữ tại gác xép: Tinh thể màu trắng bên trong

01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 4,387 gam; 100 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilông màu xanh đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 9,462 gam; Tinh thể màu hồng bên trong 01 túi nilông, không tìm thấy chất ma túy, khối lượng 18,447 gam; Chất bột màu vàng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,691 gam.

- Bên trong 01 túi nilông trong bao diêm thu giữ trong ngăn tủ trên gác xép:

Chất bột màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,097 gam.

- Bên trong 01 hộp bánh thu giữ dưới gầm bếp tầng 4: Tinh thể màu nâu

bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 72,644 gam; Chất bột màu xám bên trong 01 túi nilông là ma túy loại MDMA, khối lượng 14,631 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 48,248 gam; 20 viên nén màu xám bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 9,094 gam; 80 viên nén màu xanh nước biển bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 38,551 gam; 30 viên nén hình tam giác màu xanh lá cây bên trong 01 lọ nhựa đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 11,418 gam.

- Bên trong 01 hộp sắt hình chữ nhật thu giữ trên mặt thùng rác ngoài cửa

phòng ngủ tầng 4: Chất bột màu trắng không tìm thấy chất ma túy, khối lượng 21,510 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Duy B khai:

- Số ma túy 19,494 gam Methamphetamine khi bắt quả tang và số ma túy

14,54 gam Methamphetamine thu giữ trong lọ thủy tinh để trên bàn tại gác xép là do B mua của một phụ nữ tên Lan (không biết địa chỉ, số điện thoại), tại khu vực cửa khẩu C, phường C, vào khoảng 08 giờ ngày 04/06/2020, với giá 3 triệu đồng, mục đích để sử dụng. Khoảng 17 giờ ngày 04/06/2020, B chia số ma túy này vào các túi nilông giấu trong lọ thủy tinh và lấy 01 túi ma túy quấn băng dính màu đen bên ngoài, dán vào phía trong cạp quần đi ra ngoài tìm nơi sử dụng thì bị kiểm tra bắt giữ.

- Số ma túy 1,097 gam Ketamine, thu giữ trong bao diêm để ở ngăn tủ tại

gác xép là do B được một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ) cho để sử dụng vào khoảng đầu tháng 5/2020.

- Số ma túy (146,338 gam MDMA; 48,248 gam Ketamine) thu giữ trong

hộp bánh tại gầm bếp tầng 4 là do đối tượng tên Tuấn nhà ở khu vực ngõ 435 đường Hồng Hà, phường Phúc Tân, quận HK, số điện thoại 0971013791 để trong hộp bánh, đem đến nhà B vào tối ngày 02/6/2020 và gửi B cùng 01 valy quần áo. B khai không biết trong hộp bánh Tuấn gửi có ma túy.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 09/3/2021, Tòa án nhân

dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Duy B tù chung thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2020. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/3/2021, bị cáo Phạm Duy B kháng cáo xin giảm

hình phạt; ngày 22/3/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kháng nghị phúc thẩm với nội dung đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của

mình, giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, giảm hình phạt cho bị cáo xuống mức án 20 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí quan điểm của đại diện Viện

kiểm sát nhân dân cấp cao, đề nghị HĐXX xem xét khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ, xem xét thái độ thành khẩn khai báo và hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt, phạt bị cáo mức án tù có thời hạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm

tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, trình bày của bị cáo, người bào chữa, Hội đồng xét xử nhận định:

Kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố

Hà Nội nằm trong thời hạn luật định, hợp pháp nên được xem xét, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai

của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 04/6/2020, bị cáo Phạm Duy B bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên người bị cáo 19,494 gam Methamphetamine; thu giữ tại chỗ ở của bị cáo 14,54 gam Methamphetamine, 146,338 gam MDMA; 49,345 gam Ketamine, tổng khối lượng ma túy quy đổi là 590,461 gam Ketamine, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Hà Nội đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng đối với bị cáo đó là tái phạm nguy hiểm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo để quyết định hình phạt đối với bị cáo là đúng pháp luật. Tuy nhiên, cân nhắc tổng khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ sau khi quy đổi sang Ketamine chỉ là 590,461 gam, đối chiếu với quy định tại khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối chiếu với hướng dẫn tại mục 3.1 Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mức hình phạt cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là quá nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, giảm nhẹ một phần hình phạt, quyết định mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng

hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy B và kháng nghị của Viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 64/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo;

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản

1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Phạm Duy B 20 (hai mươi) năm tù về tội Tàng trữ trái phép

chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2020.

2. Bị cáo Phạm Duy B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ