- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn N phạm tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sả…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn N phạm tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:243/2020/HS-ST Ngày: 22/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Tiên
Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đô – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, số 277/50 Khu phố 3, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 268/2020/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 957/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn N; sinh năm 1986, tại Thành phố N; Hộ khẩu thường trú: xã Y, Hện Q, Thành phố N; Nơi cư trú: phường T, Quận M, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Phú P và bà PH Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ, 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/7/2020; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1992, nơi cư trú: phường T, Quận M, Thành phố H (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Đặng Kim L, sinh năm: 1988, nơi cư trú: phường 11, quận V, Thành phố H (Vắng mặt);
2. Ông Cao Tấn H, sinh năm: 1969; nơi cư trú: phường L, quận T, Thành phố H (Vắng mặt);
3. Bà Đặng Thị Mỹ N, sinh năm: 1959, nơi cư trú: s phường 6, Quận B, Thành phố H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 10/2019, Nguyễn N tìm kiếm trong nhóm “Hội chợ mua bán xe TP.Hồ Chí Minh” trên mạng xã hội Facebook, thấy có một thanh niên đăng bán xe mô tô, nhãn hiệu Honda LEAD, màu vàng, không có giấy đăng ký xe mô tô, Nam không nhớ thông tin về người bán, biển số xe mô tô. Sau đó Nam và người thanh niên thỏa thuận mua bán xe mô tô nêu trên với giá tiền là 11.000.000 đồng và hẹn giao nhận xe mô tô tại quán cà phê, địa chỉ: 19/9, đường Phan Văn Hớn, Tổ 60, Khu phố 5, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, khi mua xe mô tô trên do không có giấy tờ, giá trị xe mô tô rẻ hơn nhiều so với giá trị xe tương tự bán trên thị trường nên biết rõ xe mô tô này do phạm tội mà có.
Nam đã sử dụng xe mô tô nêu trên được một thời gian, vì cần tiền xài nên Nam tiếp tục tìm kiếm trong nhóm “Hội mua bán xe TP. Hồ Chí Minh” để tìm người làm biển số xe và giấy đăng ký xe mô tô giả để cầm thế chấp lấy tiền tiêu xài. N liên lạc bằng ứng dụng Messenger với một tên tài khoản “Phạm Kiều Trang” đặt bao gồm: 01 biển số xe mô tô 29V7- 546.23, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 29V7-546.23 mang tên Nguyễn N, các thông số lấy theo xe mô tô, nhãn hiệu LEAD mà N mua trước đó, với giá tiền 1.500.000 đồng. Khoảng 02 ngày sau, thì có một người đàn ông không rõ lai lịch chạy xe dịch vụ Grap đến nhà N giao cho N biển số xe mô tô và giấy đăng ký xe mô tô nêu trên, N giao số tiền 1.500.000 đồng cho người đàn ông này.
Ngày 03/12/2019, N gắn biển số 29V7-546.23 vào xe mô tô nhãn hiệu LEAD và vứt biển số cũ đi (không xác định địa điểm). Sau đó, N điều khiền xe mô tô nhãn hiệu LEAD biển số 29V7-546.23 cùng giấy đăng ký xe mô tô biển số 29V7-546.23 giả đến dịch vụ cầm đồ H Ngọc, địa chỉ: 22, đường TTN 13C, Khu phố 3, phường Tân Thới Nhất, Quận 12 do anh Nguyễn Văn H làm chủ để cầm thế chấp xe mô tô cho anh H với giá tiền 17.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng, lãi suất 3%/tháng.
Ngày 03/01/2020, N và anh H thỏa thuận giá tiền cầm cố xe mô tô nêu trên, với số tiền là 19.000.000 đồng nên N lấy thêm số tiền 2.000.000đ của anh H, anh H đồng ý cho N gia hạn hợp đồng cầm xe mô tô biển số 29V7-546.23 tổng cộng 03 lần đến ngày 03/4/2020 và N đã đóng lãi cho anh H tổng cộng số tiền là 2.000.000 đồng. Lúc này, anh H nghi vấn giấy đăng ký xe mô tô biển số 29V7 - 546.23 là giả nên N không đóng lãi suất cũng như không trả tiền cho anh H để nhận lại xe mô tô biển số 29V7 - 546.23. Do N chiếm đoạt số tiền đã cầm cố xe mô tô trên của anh H nên anh H đến Công an phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chi Minh trình báo sự việc.
Qua điều tra, truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã mời Nguyễn N làm việc. Nguyễn N đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung vụ án nêu trên.
Ngoài ra, Nguyễn N còn khai nhận:
Khoảng tháng 3/2020, N mua xe mô tô, nhãn hiệu Honda LEAD, màu đỏ, biển số 5912-043.19 của một thanh niên không xác định trên mạng xã hội Facebook với giá tiền 12.000.000 đồng, giao dịch mua bán xe mô tô tại trước địa chỉ: 391, đường Kinh Dương Vương, Khu phố 6, phường An Lạc, Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng tháng 5/2020, N mua xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, biển số 59X3 - 442.08 của người đàn ông có tài khoản tên "Mạnh Phan" trong nhóm “Hội mua bán xe TP. Hồ Chí Minh" với giá tiền 39.000.000 đồng, giao dịch mua bán xe mô tô trước địa chỉ: 458, đường Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hung, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
N khai nhận biết rõ 03 chiếc xe mô tô nêu trên có nguồn gốc do người khác phạm tội mà có nhưng N vẫn mua để sử dụng.
Vật chứng vụ án:
- 01 hợp đồng thế chấp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu, Honda LEAD, biển số: 29V7 - 546.23, ghi ngày 03/12/2019 giữa Nguyễn Văn H và Nguyễn N.
- 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh rêu, Imei: 35389410280708 Nam sử dụng điện thoại này vào mục đích phạm tội.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD, màu vàng, biển số: 29V7 546.23 (biển số giả). SM: JF45E0794263. SK: 4519FY765570. Qua xác minh, xe mô tô có biển số thật là: 59S2-556.18 do chị Đặng Thị Kim L đứng tên đăng ký chủ sở hữu và chị L bị mất trộm xe mô tô nêu trên vào ngày 15/5/2017, tại địa chỉ: 287, Phan Văn Trị, Phường 11, Quận Bình Thạnh. Xác minh tại Công an phường 11, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến ngày 05/7/2020 chị L mới đến Công an Phường 11, Quận Bình Thạnh trình báo sự việc. Tại bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 163/KLĐG ngày 31/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, kết luận xe mô tô nêu trên có giá trị số tiền là: 17.500.000 đồng. Riêng biển số xe mô tô 29V7-546.23, qua xác minh không có chủ sở hữu và tại Bản kết luận giám định số; 1380/KLGĐ-TT ngày 04/9/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: không tiến hành giám định so sánh đối với biển số xe mô tô 29V7- 546.23, do không có mẫu so sánh tưng ứng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu honda SH125i, biển số 59X3 - 442.08, số khung: RLHJF7309KYO10425, số máy: JF73LO142905, Qua xác minh, chiếc xe này do ông Cao Tấn H đứng tên đăng ký chủ sở hữu, ông H trình bày: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 7/5/2020, ông H có giao xe mô tô biển số 59X3 - 442.08 cho con trai là anh Cao Thanh B mượn sử dụng rồi Bình cho một người phụ nữ tên Lê Hồng Tử Quân (Chưa rõ lại lịch) mượn tại khách sạn Thu Phương, địa chỉ: 41A, đường TA 19A, Tổ 8, Khu phố 5, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để đi ăn nhưng sau đó Quân đi luôn không quay lại trả xe cho anh Bình. Do sợ bố mẹ la nên đến ngày 05/7/2020 anh B mới đến Công an phường Thới An, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh trình báo sự việc. Tại bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 163/KLDG ngày 31/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, kết luận xe mô tô nêu trên có trị giá số tiền là: 67.500.000 đồng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu, Honda LEAD, màu đỏ, biển số 59T2 - 043.19 (biển số giả), số khung: RLIIJF4502DY116150, số máy: JF45E0202750. Qua xác minh số máy, số khung xe mô tô có biển số thật 59F - 582.25 do ba Đặng Thị Mỹ N đứng tên đăng ký chủ sở hữu và bà N bị mất trộm xe mô tô trên vào ngày 11/3/2020, tại địa chỉ: 81/15, đường Lương Thế Vinh, phường Tân Thái Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chi Minh, nhưng đến ngày 05/7/2020 bà N mới đến Công an phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chi Minh trình báo sự việc. Tại bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 176/KLĐG ngày 31/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12. Kết luận xe mô tô nếu trên có trị giá số tiền là: 18.150.000 đồng. Riêng biển số xe mô tô 59T2-043.19. Kết quả xác minh do anh Lưu Thanh Chiến đứng tên đăng ký chủ sở hữu, qua làm việc anh Chiến cho biết hiện vẫn đang sử dụng xe mô tô biển số: 59T2-043.19. Tại bản kết luận giám định số 1380/KLGĐ-TT ngày 04/9/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận như sau: Không đủ cơ sở kết luận biển số xe 59T2-043.19 là thật hay giả.
01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 010998, biển số 29V7-546.23, số máy: JF45E0794263, Số khung: 4519FY765570 mang tên Nguyễn N, địa chỉ: xã Yên Sơn, Hện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội, do Công an Hện Quốc Oai, Tp. Hà Nội cấp ngày 30/10/2019. Tại bản kết luận giám định số 1380/KLGD-TT ngày 04/9/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận như sau: Tài liệu cần giám định ký hiệu Al là giả (bản in phôi giấy, hình đầu tròn được in bằng phương pháp in phun màu; chữ ký mang tên Thượng tá Phạm Danh Mạnh được ký giả trực tiếp).
Tại Cáo trạng số 220/CTr-VKS ngày 19 tháng 10 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn N về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 323; khoản 1 Điều 341 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 vẫn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn N về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; khoản 1 Điều 341 và khoản 1 Điều 174; điềm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù đối với tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tổng hợp mức hình phạt của 03 tội danh từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền tù 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước. Xử lý vật chứng của vụ án: Theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Khoảng tháng 10/2019 bị cáo Nguyễn N thông qua mạng xã hội bị cáo mua của một thanh niên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng không có giấy tờ, bị cáo biết xe do phạm tội mà có nhưng vì rẻ nên bị cáo mua, sau đó vì cần tiền tiêu xài bị cáo đã đặt làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe 29V7-546.23 cho chiếc xe trên mang tên chủ sở hữu Nguyễn N, để có tiền tiêu xài bị cáo đã sử dụng giấy tờ giả và xe đến tiệm cầm đồ Ngọc H cầm được số tiền 19.000.000 đồng. Kết luận định giá chiếc xe có giá trị 17.500.000 đồng. Ngoài ra vào tháng 3/2020 bị cáo có mua xe mô tô Honda Lead màu đỏ biển số 59T2-043.19 của một thanh niên không rõ lai lịch với giá 12.000.000 đồng; Tại bản kết luận định giá xe có giá trị 18.150.000 đồng và tháng 5/2020 bị cáo có mua xe mô tô nhãn hiệu SH125i biển số 59X3-442.08 của đối tượng không rõ lai lịch với giá 39.000.000 đồng; Tại bản kết luận định giá xe có giá trị 67.500.000 đồng. Tất cả các xe trên khi mua bị cáo đều biết xe do phạm tội mà có. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn N đã phạm tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 323; khoản 1 Điều 341 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, tổ chức và xâm phạm sự hoạt động bình thường, uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu và giấy tờ khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này bị cáo đã ba lần tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có; Tuy nhiên, ba lần phạm tội ở ba thời điểm khác nhau, do vậy đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Bị cáo biết rõ việc làm của mình là trái quy định pháp luật, nhưng vì lười lao động, nảy lòng tham, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi và bồi thường cho bị hại, bị cáo có cha đẻ là người có công vơi cách mang, thương binh là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo đã 03 lần tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 323; khoản 4 Điều 341 và khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Văn H nhận lại số tiền bồi thường không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng biển số 59S2-556.18 (biển số giả 29V7-546.23), số máy JF45E0794263, số khung 4519FY765570 do chị Đặng Thị Kim L làm chủ sở hữu và chị L làm mất xe trên vào ngày 15/5/2017 tại 287 Phan Văn Trị, phường 11, quận Bình Thạnh. Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh đã ra quyết định thu hồi chiếc xe trên;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ biển số 59F1-582.25 (biển số giả 59T2-043.19), số khung RLHJF4502DY116150, số máy JF45E0202750 do bà Đặng Thị Mỹ N đứng tên đăng ký chủ sở hữu và bà N bị mất trộm xe mô tô trên vào ngày 11/3/2020 tại địa chỉ 81/15 Lương Thế Vinh, phường Tân Thái Hòa, quận Tân Phú. Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú đã ra quyết định thu hồi chiếc xe trên;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, biển số 59X3-442.08, số khung RLHJF7309KY010425, số máy JF73E0142905 theo kết quả định giá 67.500.000 đồng do ông Cao Tấn H đứng tên đăng ký chủ sở hữu, ông H có cho con trai Cao Thanh Bình mượn rồi Bình cho Lê Hồng Tử Quân chưa rõ lai lịch mượn và đi luôn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã trả xe trên cho chủ sở hữu.
- 01 điện thoại Iphone Promax, màu xanh rêu, Imei 353894102807087 thu giữ của bị cáo Nam, bị cáo sử dụng xe này vào việc phạm tội. Do đó, tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại trên.
- 01 hợp đồng thế chấp tài sản; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 010998, biển số 29V7-546.23, số máy JF45E0794263, số khung 4519FY765570 là giấy tờ giả cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- 01 biển số xe mô tô 29V7-546.23 và 01 biển số xe mô tô 59T2-.43.19 là biển số giả. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn N phạm tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 323; khoản 1, khoản 4 Điều 341 và khoản 1, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn N: 01 (Một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Phạt 5.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước; 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, Phạt 5.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước và 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Phạt 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước. Tổng hợp chung mức hình phạt của 03 tội danh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2020; Tổng hợp phạt tiền là 20.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone Promax, màu xanh rêu, Imei 353894102807087.
Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe mô tô 29V7-546.23 và 01 biển số xe mô tô 59T2-.43.19 là biển số giả
Tất cả vật chứng theo Quyết định cHển vật chứng số 168/QĐ-VKS ngày 19/10/2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí:
Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12; - Công an Quận 12; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Lê |