vanban.org

Bản án 243/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 30/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Nhâm B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Giao bị cáo Phùng Nhâm B cho Ủy ban nhân dân phường HĐ, quận TX, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Phùng Nhâm B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phùng Nhâm B phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Nhâm B phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2019/HS-ST
Ngày 30-12-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quốc Hải và bà Đỗ Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

PHÙNG NHÂM B, sinh năm 1976; ĐKHKTT: Tổ x, Cụm y, phường HĐ, quận TX, thành phố Hà Nội; nơi ở: Số nhà xx ngõ yy NX, phường HĐ, quận TX, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Kim T (đã chết) và bà Đoàn Thị M (đã chết); có vợ là Đoàn Thị Hương S và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2019 đến ngày 03/11/2019; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP. Địa chỉ trụ sở chính: Tầng xxx, Tòa tháp yyy, Số z NCT, phường LT, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt S1, sinh năm 1977; chức vụ Tổng Giám đốc; vắng mặt tại phiên tòa. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn x GC, xã BT, huyện GL, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1977; nhân viên an ninh Tòa nhà TG, địa chỉ: Số xxx CA, phường VP, quận HĐ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Xã TL, huyện TT, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Nhâm B là chuyên viên giám sát dịch vụ của Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP do ông Nguyễn Việt Slà Tổng giám đốc, B làm việc tại Văn phòng Ban quản lý Tòa nhà GC1, địa chỉ: Tầng 3 Tòa nhà GC1 ở số Số xxx CA, phường VP, quận HĐ, thành phố Hà Nội từ ngày 20/7/2018. Trong thời gian làm việc tại văn phòng, B quan sát thấy sau khi hết giờ làm việc mọi người ở văn phòng đã về hết, văn phòng không có người trông coi tài sản nên B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Trong các ngày 30/9/2019, 6/10/2019 và 13/10/2019, B đã 03 lần lén lút chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 30/9/2019, sau khi hết giờ làm việc, thấy mọi người ở văn phòng đã về hết, B lấy trộm 02 case máy tính hiệu HP RP5800 của Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP, cất vào trong túi nilon màu đen mang về nhà cất giấu. Ngày 06/10/2019, B tiếp tục lấy trộm 01 case máy tính nhãn hiệu HP SGH643Q1H8 của Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP cất vào trong túi nilon màu đen mang về nhà cất giấu.

Ngày 07/10/2019, Phùng Nhâm B nhận được quyết định điều động chuyển công tác đến làm việc tại nơi khác. Khoảng 09 giờ sáng ngày 13/10/2019, B đến Tòa nhà GC1 gặp anh Nguyễn Duy T1 là nhân viên an ninh hỏi mượn chìa khóa văn phòng để lấy đồ cá nhân. Khi vào trong văn phòng, B đã quay chiếc camera đi hướng khác để tránh bị phát hiện và tiếp tục lấy trộm tài sản là 01 case máy tính nhãn hiệu HP SGH643Q1H8 và 01 chiếc ghế xoay màu đỏ - đen mang về nhà.

Ngày 15/10/2019, anh Nguyễn Vũ H là chuyên viên cao cấp của Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP được ông Nguyễn Viết S ủy quyền đến trình báo tại Công an phường Vạn Phúc về việc Công ty bị mất tài sản.

Ngày 17 và 24/10/2019, Phùng Nhâm B mang đến Văn phòng Ban quản lý Tòa nhà GC1 trả lại 04 case máy tính và 01 ghế xoay do mình trộm cắp trước đó.

Ngày 24/10/2019, Phùng Nhâm B đến Công an phường Vạn Phúc đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp của mình.

Tại Biên bản định giá tài sản số 300/BB-HĐĐG ngày 25/10/2019 và Kết luận định giá tài sản số 300/KL-HĐĐG ngày 25/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông, kết luận:

01 (một) case máy tính nhãn hiệu HP SGH643Q1H8 trị giá 700.000 đồng.

01 (một) case máy tính nhãn hiệu HP SGH643Q1H8 trị giá 700.000 đồng.

02 (hai) case máy tính nhãn hiệu HP RP5800 trị giá 3.200.000 đồng.

01 (một) chiếc ghế xoay Hòa Phát trị giá 100.000 đồng.

Tổng số tiền định giá tài sản là 4.700.000 đồng.

Ngày 05/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông đã trả lại Văn phòng Ban quản lý Tòa nhà GC1 tài sản gồm: 02 case máy tính nhãn hiệu HP SGH643Q1H8, 02 case máy tính nhãn hiệu HP RP5800, 01 ghế xoay Hòa Phát.

Cáo trạng số 248/CT-VKS-HĐ ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phùng Nhâm B về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa bị cáo nhận tội, phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác, có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên nội dung truy tố. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; đã trả lại Công ty số tài sản trộm cắp nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phùng Nhâm B từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Công ty đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Người đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã được nhận lại toàn bộ số tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường; đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 30/9/2019, 06/10/2019 và ngày 13/10/2019, tại Văn phòng Ban quản lý Tòa nhà GC1 thuộc Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP, địa chỉ số xxx CA, phường VP, quận HĐ, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Phùng Nhâm B đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý bất động sản TP, tài sản gồm: 02 case máy tính nhãn hiệu HP SGH643Q1H8 trị giá 1.400.000 đồng; 02 case máy tính nhãn hiệu HP RP5800 trị giá 3.200.000 đồng và 01 ghế xoay Hòa Phát trị giá 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.700.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Phùng Nhâm B là lén lút chiếm đoạt tài sản. Sợ bị phát hiện nên bị cáo đã 03 lần lấy tài sản giấu trong túi nilon màu đen, do đó, mặc dù có 02 lần giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trên tổng số tài sản của các lần chiếm đoạt. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.700.000 đồng nên hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét trách nhiệm hình sự trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Do nảy lòng tham, bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng 02 lần giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, nhưng cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo tự nguyện giao nộp toàn bộ số tài sản chiếm đoạt của bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú và thành khẩn khai báo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng, phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội có tính chất cơ hội, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, đã khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án; bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng; tỏ rõ sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình. Do đó có thể chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa, áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng bảo đảm mục đích của hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Nhâm B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phùng Nhâm B 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phùng Nhâm B cho Ủy ban nhân dân phường HĐ, quận TX, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Phùng Nhâm B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời hạn thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Nhâm B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/12/2019.

Cỡ chữ