vanban.org

Bản án 243/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 27/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội « Cƣớp giật tài sản » và tội « Trộm cắp tài sản »

Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T 42 (Bốn mƣơi hai) tháng tù, về tội Cướp giật tài sản; 09 (Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt C cho cả hai tội là 51 (Năm mƣơi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/4/2017. Bị cáo Trần Văn C phạm tội « Cƣớp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ngọc Thắng và đồng phạm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội « Cƣớp giật tài sản » và tội « Trộm cắp tài sản »
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2017/HSST
Ngày 27/10/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Hƣơng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Công Hồng

Ông Trần Quốc Sơn

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Chu Bích Thủy - Cán bộ Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27/10/2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 267/2017/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2017, đối với các bị cáo:

1. Đặng Ngọc T, sinh năm 1979; Hộ khẩu trường trú: Số 512 C4 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội; Văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đặng Ngọc Tạo, sinh năm: 1939 (đã chết) và bà: Phạm Thị Hậu, sinh năm 1955. Gia đình có 03 anh chị em, bị can là con thứ ba; có vợ là Nguyễn Thị Ninh, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2011.

Tiền án: Không có; Tiền sự: 02 tiền sự.

- Ngày 03/3/2004, Trộm cắp tài sản bị Công an phường Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt hành chính 500.000 đồng.

- Năm 2006, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 5, Hà Nội (chấp hành xong ngày 17/3/2008).

Bị can bị bắt quả tang ngày 13/4/2017, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn C, sinh năm 1987; Hộ khẩu trường trú: thôn 7, xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, Hà Nội; Văn hoá:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Đăng Lưu sinh năm 1956 và bà: Đỗ Thị Nhài, sinh năm 1959; Gia đình có 04 chị em, bị can là con thứ ba; Có vợ là: Nguyễn Thị Thanh Hồng, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị can bị bắt quả tang ngày 13/4/2017, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bị hại :

1.Chị Vũ Thị Thanh Hằng, sinh năm 1997

HKTT : Thôn Đông Hòa, xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở : Số 38 Vườn Cam, TDP số 6, Phú Đô, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

2.Anh Đỗ Như Tuấn, sinh năm 1969

HKTT : Số 20 ngõ 491 La Thành, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đều vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1978

Địa chỉ : TDP số 2 Phú Mỹ, phường Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

Chị Lý Thị Diệu L, sinh năm 1997.

HKTT : Yên Trạch, Phú Lương, Thái Nguyên.

Nơi ở : Số 79 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội.Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 22 giờ 45 phút ngày 13/4/2017, Tổ công tác Công an phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn phát hiện, bắt quả tang Trần Văn C điều khiển xe máy Honda Dream BKS 29X3 314.20 chở Đặng Ngọc T đang có hành vi Cướp giật 01 điện thoại Iphone 4S của chị Vũ Thị Thanh Hằng trên đường Vườn Cam, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của Đặng Ngọc T:

01 chiếc điện thoại Iphone 4S; 01 ví da màu nâu bên trong có 01 chứng minh nhân dân mang tên Đặng Ngọc T; 01 điện thoại di động Nokia 1280.

Thu giữ của Trần Văn C:

01 điện thoại di động Samsung màu trắng; 01 xe máy Honda Dream BKS 29X3 314.20; 01 ổ cứng di động WD Elements.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 13/4/2017, C điều khiển xe máy Honda Dream BKS 29X3 314.20 chở T đi từ Vườn Cam về đường Lê Đức Thọ thuộc TDP số 6, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, thì nhìn thấy chị Vũ Thị Thanh Hằng đang điều khiển xe máy BKS 98D1 462.58 đi cùng chiều để điện thoại Iphone 4S trong ngăn nhỏ của ba lô và đeo sau lung, có cắm giây tai nghe đeo ở tai. C điều khiển xe máy áp sát, T ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị Hằng thì bị Công an phường Phú Đô phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 điện thoại Iphone 4S.

Bản kết luận định giá tài sản số 128 ngày 20/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc Iphone 4S trị giá 500.000 đồng.

Ngày 21/4/2017, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 161 trả lại: Iphone 4S cho chủ sở hữu là chị Vũ Thị Thanh Hằng.

Về dân sự: chị Hằng nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn làm rõ được T và C cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 12/4/2017, Đặng Ngọc T vào quán tẩm quất tại số 4 ngõ 508 đường Láng, Đống Đa, Hà Nội của anh Đỗ Như Tuấn. Trong lúc T ngồi chờ tẩm quất ở phòng khách thì anh Tuấn đi về quán và đưa chiếc túi xách bằng vải màu xám bên trong có 01 máy tính xách tay Dell Vostro 2420 màu đen, 01 ổ cứng di động WD Elements, 01 USB 8G, 01 tai nghe Samsung cho nhân viên là chị Kiều Thị P (sinh năm 1981, HKTT Thôn Triều Đông, xã Cổ Đông, thị xã Sơn Tây, Hà Nội) để cất vào tủ trong phòng khách. Sau đó, anh Tuấn và P đi xuống bếp ăn cơm. Lợi dụng lúc không có ai trong phòng khách, T đã lấy trộm toàn bộ số tài sản trên gọi cho C rủ đi tiêu thụ. C đồng ý và đi xe máy đến đón T. Trên đường đi C giữ lại chiếc ổ cứng di động WD Elements, số tài sản còn lại C và T mang đến cửa hàng sửa chữa máy tính tại ngõ 63 Lê Đức Thọ, phường Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội bán cho anh Nguyễn Hồng D được 1.200.000 đồng rồi cùng nhau chi tiêu hết.

Ngày 13/4/2017, cơ quan điều tra thu giữ của Trần Văn C: 01 ổ cứng di động WD Elements.

Ngày 14/4/2017 anh Nguyễn Hồng D đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 máy tính xách tay Dell Vostro 2420 màu đen, 01 USB 8G, 01 tai nghe Samsung và 01 túi xách màu xám.

Bản kết luận định giá tài sản số 129 ngày 20/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

01 máy tính xách tay Dell Vostro 2420 màu đen trị giá 3.500.000 đồng

01 ổ cứng di động WD Elements trị giá 1.000.000 đồng.

01 USB Kingston 8G trị giá 100.000 đồng.

01 tai nghe Samsung trị giá 10.000 đồng.

01 túi xách đựng máy tính trị giá 100.000 đồng.

Ngày 21/4/2017 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 161 trả lại 01 máy tính xách tay Dell Vostro 2420 màu đen, 01 ổ cứng di động WD Elements, 01 USB 8G, 01 tai nghe Samsung và 01 túi xách màu xám cho chủ sở hữu là anh Đỗ Như Tuấn.

Về dân sự: Anh Đỗ Như Tuấn nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì.

Anh Nguyễn Hồng D không có yêu cầu gì.

Ngoài ra C và T còn khai nhận:

Khoảng 13 giờ ngày 13/4/2017, C điều khiển xe máy Honda Dream BKS 29X3 314.20 chở T đi đến trước cửa số nhà 420, ngõ 418 đường La Thành, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội. C và T nhìn thấy một người phụ nữ đi trên xe máy tay ga ngược chiều đang đeo một chiếc điện thoại Iphone 6 màu bạc trước ngực nên T nhảy xuống xe giật chiếc điện thoại rồi nhảy lên xe máy cùng C bỏ chạy. Sau đó, T và C mang chiếc điện thoại này đến cửa hàng sửa chữa điện thoại tại số 227 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội bán cho anh Nguyễn Đình Thành (sinh năm 1979, HKTT: TDP Hoàng 10, Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) được 700.000 đồng cùng nhau chi tiêu hết.

Ngày 14/4/2017 anh Nguyễn Đình Thành giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu bạc cho cơ quan điều tra.

Bản kết luận định giá tài sản số 129 ngày 20/4/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Iphone 6 màu bạc trị giá 6.000.000 đồng.

Ngày 27/4/2017 cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại công an phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội, nhưng không có ai trình báo về việc bị cướp giật Iphone 6 như trên và thông báo tìm người bị hại trên các thông tin đại chúng, nhưng đến nay chưa xác định được người bị hại của vụ việc trên. Vì vậy, cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu 67 ngày 04/9/2017 để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với Nguyễn Hồng D và Nguyễn Đình Thành khi mua máy tính xách tay và Iphone 6 của T và C không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Ngoài ra T và C còn khai 02 lần mua ma túy của người đàn ông (không quen biết) tại khu vực Bến xe Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tại cơ quan điều tra Đặng Ngọc T và Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 246/CT-VKS ngày 04/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Đặng Ngọc T về tội « Cướp giật tài sản » theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS và tội « Trộm cắp tài sản » theo Khoản 1 Điều 138 BLHS; Truy tố Trần Văn C về tội « Cướp giật tài sản » theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS và tội « Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có » theo Khoản 1 Điều 250 BLHS.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Đặng Ngọc T, Trần Văn C theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33; Điều 50 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Ngọc T. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33; Điều 50 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn C. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T từ 48 tháng đến 52 tháng tù về tội Cướp giật tài sản và 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc bị cáo T phải chấp hành cả 02 tội từ 57 tháng đến 64 tháng tù; Xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản và 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, buộc bị cáo C phải chấp hình phạt C cho cả hai tội từ 51 tháng đến 60 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu xung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia mầu đen đã cũ 1280 số thuê bao 0978706529; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng hồng đã qua sử dụng có số thuê bao 01669721284, số IMEI 359831067205125;

Trả lại cho bị cáo T 01 ví da mầu nâu (đã cũ) bên trong có 01 chứng minh thư mang tên Đặng Ngọc T;

Trả lại cho ông Trần Đăng Lưu – sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn 7, Trung Châu, Đan Phượng, HN 01 xe máy Honda Dream mầu nâu đã qua sử dụng mang biển kiểm soát 29X3-314.20, Số khung C100MN-0225141, Số máy C100MN-0225141, đăng ký xe mang tên ông Trần Đăng Lưu do Công an TP Hà Nội cấp ngày 03-7-2017.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, vật chứng được thu giữ, kết luận định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 12/4/2017 tại số 4 ngõ 508 đường Láng, Đống Đa, Hà Nội, Đặng Ngọc T đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay Dell Vostro 2420 trị giá 3.500.000 đồng, 01 ổ cứng di động WD Elements trị giá 1.000.000 đồng, 01 USB Kingston 8G trị giá 100.000 đồng, 01 tai nghe Samsung trị giá 10.000 đồng, 01 túi xách đựng máy tính trị giá 100.000 đồng của anh Đỗ Như Tuấn. Sau đó T rủ C đi tiêu thụ số tài sản trộm cắp trên. C đồng ý đưa T đến cửa hàng sửa chữa máy tính tại ngõ 63 Lê Đức Thọ, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội bán cho anh Nguyễn Hồng D gồm: 01 máy tính xách tay Dell Vostro 2420, 01 USB Kingston 8G, 01 tai nghe Samsung, 01 túi xách đựng máy tính được 1.200.000 đồng. Số tiền này T và C đã cùng nhau ăn tiêu hết, còn 01 ổ cứng di động WD Elements C đã giữ lại.

Tổng giá trị tài sản mà T đã trộm cắp và C tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là 4.710.000 đồng.

Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 13/4/2017 tại TDP 6 phường Phú Đô, Nam Từ Liêm, Hà Nội. C điều khiển xe máy Honda Dream BKS 29X3 314.20 chở T đã có hành vi Cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 4S trị giá 500.000 đồng của chị Vũ Thị Thanh Hằng thì bị Công an phường Phú Đô phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Đặng Ngọc T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Trần Văn C đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án nghiêm trọng, hành vi Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã có sự bàn bạc từ trước, thống nhất với nhau để thực hiện việc phạm tội đến cùng. Đối với hành vi Cướp giật tài sản vai trò của các bị cáo là ngang nhau, Bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, bị cáo C là người giúp sức tích cực. Đồng thời bản thân các bị cáo cũng là đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo T có 02 tiền sự về tội Trộm cắp tài sản và đi Chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 5, Hà Nội (đã chấp hành xong), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.

Trong vụ án này các bị cáo đã thực hiện hành vi Cướp giật tài sản nhiều lần nhưng đối với hành vi Cướp giật tài sản chiếc điện thoại Iphone 6 cơ quan điều tra chưa xác định được bị hại nên đã tách tài liệu và xử lý sau. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa P, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần được xử lý nghiêm đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo T, C đã khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thì cần cách ly các bị cáo một thời gian để trừng trị, giáo dục, phòng ngừa C.

Do các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có ý kiến gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS

Trả lại cho bị cáo T 01 ví da màu nâu (đã cũ) bên trong có 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Ngọc T;

Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Nokia mầu đen đã cũ 1280 số thuê bao 0978706529; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng hồng đã qua sử dụng có số thuê bao 01669721284, số IMEI 359831067205125;

Trả lại cho ông Trần Đăng Lưu – sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn 7, Trung Châu, Đan Phượng, HN 01 xe máy Honda Dream mầu nâu đã qua sử dụng mang biển kiểm soát 29X3-314.20, Số khung C100MN-0225141, Số máy C100MN-0225141, đăng ký xe mang tên ông Trần Đăng Lưu do Công an TP Hà Nội cấp ngày 03-7-2017.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội « Cƣớp giật tài sản » và tội « Trộm cắp tài sản »

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T 42 (Bốn mƣơi hai) tháng tù, về tội Cướp giật tài sản; 09 (Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt C cho cả hai tội là 51 (Năm mƣơi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/4/2017.

Bị cáo Trần Văn C phạm tội « Cƣớp giật tài sản » và tội « Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có ».

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 38 (Ba mươi tám) tháng tù, về tội Cướp giật tài sản; 09 (Chín) tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt C cho cả hai tội là 47 (Bốn mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/4/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo T 01 ví da màu nâu (đã cũ) bên trong có 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đặng Ngọc T;

Trả lại cho ông Trần Đăng Lưu – sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn 7, Trung Châu, Đan Phượng, HN 01 xe máy Honda Dream mầu nâu đã qua sử dụng mang biển kiểm soát 29X3-314.20, Số khung C100MN-0225141, Số máy C100MN-0225141, đăng ký xe mang tên ông Trần Đăng Lưu do Công an TP Hà Nội cấp ngày 03-7-2017.

Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Nokia mầu đen đã cũ 1280 số thuê bao 0978706529; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng hồng đã qua sử dụng có số thuê bao 01669721284, số IMEI 359831067205125; 01 xe máy Honda Dream mầu nâu đã qua sử dụng BKS 29X3 314.20, số máy C100MN-0225141, số khung C100MN-0225.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 04 ngày 05 tháng 10 năm 2017 giữa Cơ qaun cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 98, khoản 2 Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo, Người bị hại, người có quyền

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà lợi nghĩa vụ liên quan;

- VKSND quận Nam Từ Liêm;

- VKSND thành phố Hà Nội;

- TAND thành phố Hà Nội;

- Công an quận Nam Từ Liêm;

- Chi cục THA DS quận Nam Từ Liêm;

- Lưu HS, VP.

Mai Thị Hƣơng

- Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Nokia mầu đen đã cũ 1280 số thuê bao 0978706529; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng hồng đã qua sử dụng có số thuê bao 01669721284, số IMEI 359831067205125; 01 xe máy Honda Dream mầu nâu đã qua sử dụng BKS 29X3 314.20, số máy C100MN-0225141, số khung C100MN-0225.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 04 ngày 05 tháng 10 năm 2017 giữa Cơ qaun cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 98, khoản 2 Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ