- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật hình sự Đối; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự Đối
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 243/2017/HSST Ngày: 26/07/2017 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Minh
2/ Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 07 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 250/2017/TLST-HS ngày 21 tháng 06 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2017/QĐXXST-HS ngày 13/7/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1983 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Phúc Thọ, Quảng Tâm, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Con ông: Nguyễn Ngọc T (c) và bà Lê Thị C; Vợ là Nguyễn Thị H; Tiền án: 01; Tiền sự: Không; Nhân thân:
- Năm 2007 Công an xã Quảng Tâm, Quảng Xương, Thanh Hóa xử phạt hành chính về tội Cố ý gây thương tích (đã hết thời hiệu).
- Bản án số 289/2009/HSST ngày 18/08/2009 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/06/2009 (đã xóa án tích).
- Bản án số 152/2013/HSST ngày 18/09/2013 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội xử phạt 20 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/05/2013 (chưa xóa án tích).
Bắt quả tang ngày 17/01/2017. Tạm giữ ngày 17/01/2017. Tạm giam ngày 19/01/2017. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 02 cơ sở 2 – Công an thành phố Hà Nội; Có mặt.
Bị hại: Công ty cổ phần công nghệ và đầu tư thương mại HA
Trụ sở: Khu đô thị Đ, quận H, thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Tuấn A – Chức vụ: Giám đốc
ĐKHKTT: Tổ X, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02h00’ ngày 25/10/2015, bị cáo Nguyễn Ngọc C mang theo 01 mỏ lết và 02 tuốc nơ vít, 01 điện thoại Nokia 1280, đi bộ lang thang một mình tại khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội với mục đích xem nhà ai sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Khi đi đến nhà CX, lô Y, Khu đô thị Đ, nhà 04 tầng có treo biển công ty HA (do anh Nguyễn Tuấn A làm Giám đốc) không có người trông coi. Bị cáo C đi vòng ra phía sau trèo lên tầng 3 phía sau nhà bên cạnh lên ban công tầng 3 của nhà CX, lô Y thấy cửa sổ tầng 3 có 03 lớp, cửa gỗ ngoài cùng là chớp lật, bị cáo C dùng tay mở cửa sổ gỗ chớp lật, thấy bên trong là song sắt lan hoa, bị cáo C dùng mỏ lết vặn bẻ 2 đầu song sắt hình chữ U, làm bung mối hàn dưới tạo lỗ hổng kích thước 30x40(cm), sau đó tháo ô cửa kính cho tay vào bên trong mở vặn chốt cửa (clemon), và chui qua lỗ cửa sổ đột nhập vào bên trong tầng 3 nhà CX. Bị cáo C dùng đèn pin điện thoại soi lục soát phòng làm việc tầng 3, phát hiện 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đỏ đang mở để trên bàn làm việc. Bị cáo C gấp lại và cầm theo xuống tầng 2 để lục soát. Tại tầng 2 bị cáo C không phát hiện tài sản gì để lấy. Bị cáo C theo lối cầu thang xuống tầng 1, phát hiện 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu ghi xám để trên mặt bàn giáp với cửa chính của nhà và 01 túi cặp đựng máy tính để dưới gầm bàn bên cạnh. Bị cáo C cho cả 02 máy tính vào cặp sau đó tiếp tục lục soát ngăn tủ tại tầng 1 dựng sát tường lấy 01 máy bắn ốc vít trong ngăn tủ. Sau khi lấy xong bị cáo C xách cặp đựng 02 máy tính đi ra phía sau tầng 1 mở cửa sau để đi, do thấy có ánh đèn điện và có người đi lại bị cáo C quay lại lên tầng 3 qua lối đột nhập vào trèo sang nhà bên cạnh leo xuống đất và đi lang thang ở khu vực đường T. Đến khoảng 17h00’ cùng ngày, bị cáo C gọi điện hẹn gặp H (chưa rõ nhân thân lai lịch) ra cầu Đ, quận H, Hà Nội, để bán cho H 02 máy tính xách tay cùng 01 máy bắn vít với giá 6.800.000 đồng. Sau đó, bị cáo C ra đi xe khách về nhà tại xã P, huyện Q, TP. Thanh Hóa. Trên đường về nhà, bị cáo C đã vứt 01 chiếc mỏ lết và 02 chiếc tô vít tại vị trí nào bị cáo C không nhớ, số tiền 6.800.000 đồng bị cáo C đã ăn tiêu hết. Chiếc điện thoại Nokia 1280 bị cáo C đã làm mất. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai không thu hồi được số tài sản trộm cắp cùng công cụ gây án của bị cáo C.
Anh Nguyễn Tuấn A – Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ và đầu tư thương mại HA (Công ty HA) khai: Ngày 25/10/2015 Công ty HA bị mất trộm tài sản gồm: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đỏ trị giá khoảng 10.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu ghi xám trị giá khoảng 8.000.0000 đồng và 01 máy bắn ốc vít trị giá khoảng 2.000.000 đồng cùng 01 cặp đựng máy tính đi theo máy. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp khoảng 20.000.000 đồng,
Ngày 26/10/2015 Công ty HA có đơn trình báo gửi Công an phường Định Công và Công an quận Hoàng Mai và thông báo Công ty có lắp đặt hệ thống Camera giám sát và đã trích xuất được hình ảnh của đối tượng trộm cắp. Quá trình điều tra tài sản không thu hồi được về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty HA không yêu cầu bị cáo C bồi thường dân sự.
Ngày 10/12/2015, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai, Hà Nội có công văn số 225/HĐĐG-CV trả lời do tài sản không thu hồi được nên không có đủ căn cứ để kiểm định, xác định được giá trị, chất lượng còn lại của tài sản nên không tiến hành định giá được.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra CAQ. Hoàng Mai tiến hành khảo sát giá trị tại Cửa hàng mua bán đồ dân dụng tổ X phường Y, quận H, Hà Nội và Cửa hàng mua bán đồ dân dụng tại Chung cư H, phường L, quận H Hà Nội, xác định 01 máy khoan bắt vít nhãn hiệu Makita có giá trị khoảng 2.000.000 đồng; khảo sát tại Cửa hàng mua bán máy tính số X đường T, quận H, Hà Nội và Cửa hàng sửa chữa mua bán máy tính tổ M đường Y, quận H, Hà Nội xác định: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đỏ có giá trị khoảng 10.000.000 đồng, 01 máy tính xách tay DELL màu xám ghi có giá trị khoảng 8.000.000 đồng.
Ngày 08/03/2015 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 08/05/2016, Cơ quan CSĐT – CAQ Hoàng Mai – Hà Nội ra quyết định khỏi tố bị can, ra Lệnh khẩn cấp đối với bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội trộm cắp tài sản nhưng không bắt được do bị cáo C đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 05/7/2015 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai ra quyết định truy nã đối với bị cáo Nguyễn Ngọc C. Ngày 08/7/2016 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai ra quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can.
Khoảng 11 giờ 00 ngày 17/01/2017, tại khu lán trại ngõ 192 đường L- phường Đ-quận H- Hà Nội, tổ công tác công an phường Đ bắt quả tang bị cáo Nguyễn Ngọc C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, phát hiện và thu giữ trong túi quần trước, bên phải của bị cáo C 01 túi nilon màu trắng, kích thước (03x06 cm) bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, bị cáo C khai nhận đó là Heroine mua về để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 815/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroine, trọng lượng: 0,311 gam.
Ngày 17/1/2017 Công an phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai về việc bắt bị cáo Nguyễn Ngọc C về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngày 18/1/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai ra quyết định đình nã và phục hồi điều tra vụ án hình sự.
Ngày 19/01/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngày 07/03/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai ra quyết định nhập vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” với vụ án hình sự “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, bị cáo Nguyễn Ngọc C khai nhận:
Về tội “Trộm cắp tài sản”: bị cáo Nguyễn Ngọc C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Ngọc C khai nhận: Khoảng 18h00’ ngày 16/01/2017, bị cáo Nguyễn Ngọc C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu bạc – trắng – đen BKS 36B3-04.205 đi ra khu vực bến xe X, phường G, quận H, Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, bị cáo C gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 01 túi ma túy kích thước 03x06(cm) với giá 500.000 đồng. Sau đó, bị cáo C cất túi ma túy vào trong túi quần đi về nhà. Đến khoảng 11h00’ ngày 17/01/2017, khi đang ở lán trại ngõ K đường T, phường Đ, quận H, Hà Nội thì bị cáo C bị Công an phường Định Công kiểm tra, bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ tang vật như đã nêu trên. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo C 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu trắng BKS: 36B3-04.205, 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh xám và 01 điện thoại Nokia 220 màu đen.
Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc C cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh đối với H và nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo C nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ ngoài lời khai của bị cáo C nên ngày 13/04/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra – CAQ. Hoàng Mai ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của H và hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của nam thanh niên để điều tra làm rõ xử lý sau.
Xác minh tài sản khác thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc C gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu trắng BKS: 36B3-04.205, 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh xám và 01 điện thoại Nokia 220 màu đen. Quá trình điều tra đã xác định:
Đối với 01 điện thoại di động 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 220 màu
đen có số imei1: 358619060879660, số imei 2: 358619060879678 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xám xanh, số imei: 35603303108311. Hai chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để liên lạc hàng ngày.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng – đen – bạc BKS: 36B3 – 04205, bị cáo C khai mượn của anh Viên Đình T (ĐKHKTT: Thôn Y, thị xã S, tỉnhThanh Hóa, là cháu của bị cáo C) để sử dụng. Anh T khai: Tháng 9/2015 anh mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng – đen – bạc BKS: 36B3 – 04205 của anh Lương Văn M, có xuất trình giấy bán xe, tháng 10/2016 cho bị cáo C mượn xe, anh không biết bị cáo C sử dụng xe máy vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác minh ngày 05/04/2017 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T chiếc xe máy trên. Anh Viên Đình T đã nhận lại chiếc xe máy và không có yêu cầu gì về dân sự nên Tòa án không đưa anh Viên Đình T vào là người tham gia tố tụng tại phiên tòa.
Tại bản cáo trạng số 168/CT-VKS-HS ngày 27/04/2017 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo C khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng Viện kiểm sát truy bố bị cáo đúng với hành vi đã thực hiện. Gia đình bị cáo C có xuất trình cho HĐXX Huân chương kháng chiến hạng nhì của ông Nguyễn Ngọc T (bố bị cáo) do Nhà nước tặng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố, đối với bị cáo về 02 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 138; khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 50; Điều 33, Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 26 tháng tù đến 30 thàng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chấp hành hình phạt chung từ 44 tháng tù đến 52 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty cổ phần công nghệ và đầu tư thương mại HA do anh Nguyễn Tuấn A – Giám đốc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.800.000đồng do phạm tội mà có.
Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,311 gam ma túy loại Heroine.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 220 màu đen có số imei1:
358619060879660, số imei 2: 358619060879678 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xám xanh, số imei: 35603303108311 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc C không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị hại Công ty cổ phần công nghệ và đầu tư thương mại HA, đại diện theo pháp luật là anh Nguyễn Tuấn A, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX căn cứ Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 25/10/2015 tại nhà C, lô X, Khu đô thị Đ, quận H, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Ngọc C đã có hành vi đột nhập vào nhà C, lô X trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đỏ, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu ghi xám, 01 túi cặp đựng máy tính và 01 máy khoản bắn ốc vít có tổng trị giá 20.000.000 đồng. Sau đó bị cáo bỏ trốn. Trong thời gian trốn truy nã, khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17/01/2017 tại khu lán trại ngõ X đường L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội bị cáo Nguyễn Ngọc C đã bị tổ công tác Công an phường Định Công bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần trước bên phải của bị cáo 0,311 gam, loại ma túy Heroine với mục đích sử dụng. Bị cáo Nguyễn Ngọc C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về chất gây nghiện nên hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc C về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án ngày 18/9/2013 chưa được xóa án tích. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối cải. Bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
.Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự năm 2007 Công an xã Quảng Tâm, Quảng Xương, Thanh Hóa xử phạt hành chính về tội Cố ý gây thương tích (đã hết thời hiệu) và 02 tiền án. Đối với bản án số 289/2009/HSST ngày 18/08/2009 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 13/06/2009. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2010 và hình phạt phụ ngày 18/8/2009. Tại điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về trường hợp đương nhiên được xóa án tích là: “03 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 03 năm”. Tại khoản 3 Điều 67 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Việc chấp hành xong bản án bao gồm chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án”.
Tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “ Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây : b) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm ”
Như vậy theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Bản án số 289/2009/HSST ngày 18/08/2009 đã được xóa án tích. Quy định này có lợi cho bị cáo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 quy định “Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây: a) Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, điểm b khoản 1 Điều này.
Tiền án ngày 18/09/2013 chưa xóa án tích, thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt nên cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tọa bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử nhận thấy, tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 quy định “Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây:
a) Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, điểm b khoản 1 Điều này.
Áp dụng trong trường hợp phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: So sánh đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thì mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 có mức hình phạt từ 02 năm tù đến 07 năm tù; tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt từ 01 năm tù đến 05 năm tù. Theo hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội, thực hiện Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017; CV số 276/TANDTC-PC ngày 13/09/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015. Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử thấy cần áo dụng mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.
Do bị cáo bị xét xử cùng một lần, một người phạm nhiều tội nên HĐXX áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là không có nghề nghiệp ổn định, không có kinh tế nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty cổ phần công nghệ và đầu tư thương mại HA do Anh Nguyễn Tuấn A – Giám đốc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không xét.
. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự
Đối với số tiền 6.800.000 đồng là tiền bị cáo hưởng lợi từ việc bán tài sản trộm cắp được. Đây là khoản tiền do bị cáo phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự
Đối với 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,311 gam ma túy loại Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 220 màu đen có số imei1:
358619060879660, số imei 2: 358619060879678 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xám xanh, số imei: 35603303108311. Quá trình điều tra 02 chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để liên lạc hàng ngày, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 22, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 50; Điều 33, Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 76, Điều 99 , Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự:
Căn cứ khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 (đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”).
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc C 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2017.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc C phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.800.000 đồng
Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,311 gam ma túy loại Heroine.
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 220 màu đen có số imei1:
358619060879660, số imei 2: 358619060879678 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xám xanh, số imei: 35603303108311 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Hiện vật chứng đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập vật chứng số 231/2017 ngày 05/06/2017
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc C phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn ) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân quận Hoàng Mai - Công an quận Hoàng Mai - Chi cục THADS quận Hoàng Mai - Bị cáo - Bị hại - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Trung |