- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung Tr - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Trung Tr.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH ĐỒNG THÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2017/HSPT Ngày: 29-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁ
V i thành ph n Hội ồng t phúc thẩm gồm c :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Phú Đông
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mai
Ông Ngô Tấn Lợi
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 212/2017/HSPT ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trung Tr.
Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung Tr đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2017/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố C.
* Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN TRUNG TR
Sinh năm 1984;
Hộ khẩu thường trú: Tổ 2, ấp 2, xã G, huyện C, Đồng Tháp;
Trình độ học vấn: 3/12;
Nghề nghiệp: Không;
Cha: Nguyễn Văn M, mẹ: Dương Thị L;
Vợ: Nguyễn Thị Bé B; chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/7/2006, bị TAND tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Được giảm án, chấp hành xong ngày 07/01/2009;
Bắt ngày 27/7/2016;
Tạm giữ ngày 28/7/2016;
Tạm giam ngày 06/8/2016.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Minh Nh, Võ Trung H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NHẬN TH Y:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố C thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 11/4/2016, Lê Vũ S, sinh năm 1989, đăng ký thường trú tại tổ 3, ấp T, xã T1, rủ Trần Chí C1, sinh năm 1995, ngụ tổ 38, khóm 4, phường 6, thành phố C, mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó, S điện thoại cho Võ Trung H (tên thường gọi H Kỳ) hỏi mua 700.000đồng ma túy, H đồng ý và hẹn S đến quán cà phê "R " trên đường NTH, thuộc tổ 1, khóm 1, phường 4, thành phố C để giao dịch. C1 điều khiển xe Sirius màu xám đen 66P1-561.66 của mình chở S đến điểm hẹn đứng ngoài đường. S điện thoại cho H từ trong quán đi ra, S đưa 700.000đồng (gồm 01 tờ 500.000đ và 02 tờ 100.000đ), nhận tiền xong H giao cho S 01 túi nylon màu trắng có chứa ma túy rồi bỏ vào trong quán, còn C1 và S chạy xe về, thì Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đồng Tháp, kết hợp với Cơ quan điều tra Công an thành phố C cùng Công an Phường 4 tiến hành kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tang vật:
- Thu giữ trên người S: 01 túi nylon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, niêm phong.
- Thu giữ trên người H: 1.400.000đồng (gồm 01 tờ 500.000đ, 01 tờ 200.000đ và 07 tờ 100.000đ); 01 điện thoại Nokia 515 màu vàng đen của H dùng để liên lạc bán ma túy; 01 Ipad mini màu xám đen và 01 điện thoại Nokia 105 màu đỏ đen của bạn gái H là Phạm Thị Cẩm Tr1, tất cả được niêm phong.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại Phòng số 1 Nhà trọ TNP thuộc phường E, thu giữ: 01 túi nylon loại túi kẹp màu trắng, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu A1; 02 nỏ bằng thủy tinh và 01 bình nhựa tự chế để sử dụng ma túy.
Tạm giữ của H: 01 xe môtô AirBlade màu trắng biển số 66N1-144.64; 01 dây chuyền kim loại màu vàng và 06 triệu đồng (gồm 12 tờ 500.000đ) niêm phong. Tất cả số tài sản trên của Phạm Thị Cẩm Tr1 (tên thường gọi là K), sinh năm 1993, ngụ tổ 6, ấp HH, xã HA, thành phố C. Tr1 biết H có sử dụng ma túy, chứ không biết H bán ma túy cho người khác.
Căn cứ kết luận giám định số 180/KL-KTHS ngày 15/4/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn màu trắng trọng lượng 0,1304 gam chứa trong túi nylon màu trắng được niêm phong, thu giữ của Lê Vũ S ngày 11/4/2016, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp gửi đến giám định, có chứa thành phần chất ma túy Methamphetamine, hàm lượng 72,83%. Trọng lượng Methamphetamine 0,0950 gam, đã sử dụng hết phục vụ công tác giám định.
Tinh thể rắn màu trắng có trọng lượng 1,3841 gam chứa trong một túi nylon niêm phong ký hiệu A1, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp gửi đến giám định, có chứa thành phần chất ma túy Methamphetamine, hàm lượng 73,44%. Trọng lượng Methamphetamine 1,0165 gam.
* Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh, H mua ma túy của một người tên H1 ở TP. Hồ Chí Minh (không xác định tên, địa chỉ cụ thể), Nguyễn Minh Nh, sinh năm 1990, ngụ tổ 5, ấp 1, xã F, thành phố C và Nguyễn Trung Tr, sinh năm 1984, ngụ ấp 2, xã G, huyện C về sử dụng và còn 06 lần bán lại cho nhiều người khác thu được số tiền 3.700.000đồng, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 01 giờ ngày 15/02/2016, Nguyễn Đức B (tên gọi khác B Mụn), sinh năm 1993, ngụ khóm MT, phường MP, điện thoại cho H sim số 0944.777.xxx hỏi mua 500.000đồng ma túy, H đồng ý và hẹn giao dịch ở khu vực nhà trọ của H thuộc phường E. Gặp nhau, B đưa 500.000đồng (loại tiền nhiều mệnh giá khác nhau), nhận tiền xong H giao cho B gói thuốc Hero bên trong có túi nylon chứa ma túy, B đem về nhà sử dụng.
Lần 2: Khoảng 23 giờ ngày mùng 2 Tết 2016, Nguyễn Khắc H2 (H2 gạo) sinh năm 1993, ngụ số 318 C, khóm MP1, Phường 3, thành phố C, đang ở quán Bar A điện thoại cho H hỏi mua 500.000đồng ma túy, H hỏi ai vậy, H2 trả lời H2 gạo nè, H đồng ý và nói để tý H điện thoại lại. Khoảng 15 phút sau, H điện thoại lại cho H2 hẹn H2 đến gần khu vực Trạm y tế phường E để giao dịch. H chạy xe đến điểm hẹn không gặp H, nên H2 điện thoại báo cho H biết H2 đến điểm hẹn rồi. Khoảng 5 phút sau, H một mình chạy xe môtô Airblade màu trắng tới, H2 đưa 500.000đồng, H nhận tiền và giao cho H2 01 túi nylon màu trắng hàn kín bên trong chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 3: Khoảng 23 giờ cách lần 2 khoảng 2 ngày, Nguyễn Khắc H2 (H2 gạo) đang chạy xe ngoài đường điện thoại hỏi H một gốc tám ma túy bao nhiêu tiền, H trả lời 1.200.000đồng, H2 đồng ý mua nên H nói để tý nữa H điện thoại lại. Khoảng 5 phút sau, H gọi và hẹn H2 giao dịch mua bán ma túy gần khu vực Cầu HN. H2 chạy xe đến khu vực điểm hẹn nhưng không gặp, H2 điện thoại báo cho H biết H2 đến điểm hẹn rồi, H trả lời đang chạy xe tới. H một mình chạy xe môtô AirBlade đến, H2 đưa 1.200.000đồng, H nhận tiền và giao cho H2 01 túi nylon màu trắng chứa ma túy. H2 đem về nhà sử dụng thì bị cha, mẹ phát hiện nên cấm không cho H2 sử dụng ma túy nữa.
Lần 4: Khoảng 11 giờ không nhớ ngày giữa tháng 3/2016, B1 Biu (không xác định tên, địa chỉ cụ thể) điện thoại cho H nói thằng S1 Ốc Bưu đi chung với tôi nó mua 500.000đồng ma túy, cậu đưa cho nó nhé, H đồng ý. Sau đó, S1 Ốc Bưu (tên thật là Phạm Quốc S1, sinh năm 1985, ngụ khóm 3, Phường 2, thành phố C) điện thoại lại cho H nói tôi là S1 Ốc Bưu nè, nảy giờ B1 Biu có gọi cho bạn chưa?, H trả lời rồi, thì S1 nói mình đang đứng ở khu vực Cầu Trường J, chạy lại đây giao hàng (ma túy) nhé, H đồng ý. S1 đến điểm hẹn đợi khoảng 15 phút, H chạy xe đến S1 đưa 500.000đồng, H nhận tiền và giao 01 túi nylon màu trắng chứa ma túy cho S1 về sử dụng.
Lần 5: Khoảng 13 giờ ngày 08/4/2016, Lê Vũ S điện thoại cho H hỏi mua 700.000đồng ma túy, H đồng ý và hẹn giao dịch mua bán trên đường LTK gần khu vực Ngân hàng C. S đến điểm hẹn đợi khoảng 10 phút thì H chạy xe môtô AirBlade đến, S đưa 700.000đồng, H nhận tiền rồi đưa cho S gói thuốc “555” và nói lấy điếu thuốc hút đi rồi lật ra sau có “đồ” ma túy. S nhận gói thuốc và lấy tép ma túy ở mặt sau gói thuốc đem về sử dụng một mình.
Lần 6: Vào khoảng 12 giờ ngày 10/4/2016, S điện thoại cho H hỏi còn “đồ” ma túy không bán cho S 300.000đồng, H đồng ý và hẹn S đến gần nhà trọ NT trên đường THD thuộc Phường 4 để giao dịch mua bán. Gặp nhau, S đưa 300.000đồng, nhận tiền xong H đưa cho S một tép ma túy đem về nhà sử dụng.
Võ Trung H còn khai nhận bán ma túy cho những người không xác định tên thật, địa chỉ rõ ràng gồm: Qu 2 lần số tiền 800.000đồng và B1 Biu 3 lần giá 1.100.000đồng. Ngoài lời khai của H ra thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh H đã bán ma túy cho Qu và B1 Biu.
Ngoài ra, vợ chồng Lê Thị N và Trần Phúc H3 cùng ngụ tại tổ 16, ấp ĐB xã HA khai nhận nhờ Nguyễn Khắc H2 (H2 gạo) điện thoại cho Võ Trung H mua 1.800.000đồng ma túy. Vợ chồng Lê Thị N nhận ma túy của H tại quán Bar A. Tuy nhiên, H không thừa nhận, lời khai của vợ chồng N mâu thuẫn với lời khai của H và hiện nay vợ chồng N đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, chưa tiến hành đối chất, nhận dạng được. Vì vậy, chưa đủ căn cứ chứng minh H đã bán ma túy cho vợ chồng N.
Quá trình điều tra, Võ Phúc H thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
* Ngày 22/4/2016, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Minh Nh, về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" để tiến hành điều tra. Trong suốt quá trình điều tra, Nh chỉ thừa nhận có mua ma túy của Nguyễn Trung Tr và T7 Max, T3 Nẹt, Ch (không rõ tên thật và địa chỉ) về sử dụng chứ không bán cho ai, nhưng căn cứ lời khai, đối chất, nhận dạng của những người mua ma túy của Nh thống nhất một cách khách quan, nên có đủ căn cứ chứng minh Nh đã 16 lần bán trái phép chất ma túy cho nhiều người thu được số tiền 8.350.000đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 14 giờ (không nhớ ngày) đầu tháng 9 năm 2015, Võ Trung H điện thoại cho Nh sim số 0966.544.766 hỏi mua “1 gốc 8 ma túy”, Nh trả lời “có, giá 1.200.000đồng”, H đồng ý mua, Nh hẹn H khoảng 15 phút sau gặp ở quán cơm UK trên đường NTH thuộc phường E để giao ma túy. H ngồi ăn cơm tại quán và chờ, khoảng 10 phút thì Tr2 (tên thường gọi là Tr2 Ba Tàu nhà ở gần nhà của Nh) điện thoại cho H hỏi: mầy đang ở đâu tao chạy lại đưa "đồ" ma túy nè, H trả đang ở quán cơm UK. Sau đó, Tr2 đến đưa cho H 01 túi nylon màu trắng hàn kín bên ngoài có quấn băng keo đen chứa ma túy. H móc trong túi quần ra đưa cho Tr2 1.000.000đồng và nói thiếu 200.000đồng, thì Tr2 không chịu lấy mà điện thoại cho Nh hỏi có chịu không. H thấy Tr2 lấy điện thoại điện cho Nh nhưng không nghe được nội dung Tr2 và Nh nói chuyện, nhưng sau đó Tr2 kêu H đưa số tiền 1.000.000đồng rồi bỏ đi. 03 ngày sau, Nh ghé nhà trọ của H lấy tiếp 200.000đồng mà H còn thiếu. Lấy tiền xong, Nh đi đâu H không biết.
Lần 2: Khoảng 01 giờ sáng (không nhớ ngày) giữa tháng 9 năm 2015, H đang ở khách sạn TL thuộc Phường 6, điện thoại sim số 0942.024.xxx gọi cho Nh sim số 0966.544.xxx hỏi mua “1 gốc 8 ma túy”, Nh trả lời giá 1.200.000đồng, H đồng ý mua nên Nh hẹn H khoảng 30 phút sau đến khách sạn giao ma túy cho H. Khoảng 30 phút sau, thì có một người thanh niên (H không biết tên và địa chỉ) điện thoại cho H nói em tới khách sạn TL rồi nè. H hiểu là người giao ma túy giùm cho Nh đã đến, nên H đi ra trước cửa khách sạn thì người thanh niên chỉ H gói thuốc HERO dưới gốc cây, H nhặt lên và mở ra bên trong có một túi nylon màu trắng hàn kín chứa ma túy, H đưa cho người thanh niên số tiền 600.000đồng và nói thiếu lại 600.000đồng. Người thanh niên này không chịu lấy tiền, nên H dùng điện thoại gọi cho Nh nói đưa trước 600.000đồng và thiếu 600.000đồng nhé, Nh đồng ý nên người thanh niên nhận tiền rồi bỏ đi. Khoảng một tháng sau, thì người thanh niên giao ma túy điện thoại cho H nói anh đang ở đâu anh Nh kêu lấy 600.000đồng hôm trước còn thiếu, H trả lời: tao đang ở nhà trọ mầy ghé lấy. Khoảng 10 phút sau, người thanh niên đến nhà trọ H lấy 600.000đồng rồi bỏ đi.
Lần 3: Khoảng cuối tháng 12 năm 2015 (không nhớ ngày), Phạm Quốc S1 (tên thường gọi S1 Ốc Bưu) gọi điện thoại cho Nh hỏi mua 500.000đồng ma túy, Nh trả lời có và hẹn giao ma túy tại khu vực Cầu KC. Sau đó, S1 chạy xe đến Cầu KC nhưng không gặp Nh. S1 đứng đợi khoảng 15 phút thì Nh chạy xe Wave một mình đến giao cho S1 một túi nylon chứa ma túy, S1 trả cho Nh 500.000đồng, rồi đem ma túy về sử dụng một mình.
Lần 4: Khoảng đầu tháng 01 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 gọi điện thoại cho Nh hỏi mua ma túy với giá 500.000đồng, Nh đồng ý và hẹn giao ma túy cho S1 tại cầu OT thuộc xã F. Sau đó, S1 chạy xe một mình đến điểm hẹn nhưng không gặp Nh, đứng đợi khoảng 15 phút thì có một người thanh niên (S1 không biết tên và địa chỉ) đi một mình bằng xe gắn máy đến đưa cho S1 một túi nylon chứa ma túy, S1 trả cho người thanh niên này số tiền 500.000đồng, rồi đem ma túy về sử dụng một mình.
Lần 5: Khoảng đầu tháng 3 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 gọi điện thoại cho Nh hỏi mua 500.000đồng ma túy, Nh đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu vực Cầu KC. Sau đó, S1 chạy xe một mình đến điểm hẹn nhưng không gặp Nh. S1 đứng đợi khoảng 15 phút, thì Nh chạy xe Wave một mình đến giao cho S1 một túi nylon chứa ma túy, S1 trả cho Nh 500.000đồng, rồi đem ma túy về sử dụng một mình.
Lần 6: Khoảng cuối tháng 3 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 gọi điện thoại cho Nh hỏi mua ma túy với giá 500.000đồng, Nh trả lời có và bảo S1 chạy lên Cầu KC để Nh giao ma túy. Sau đó, S1 chạy xe đến Cầu nhưng không gặp Nh. S1 đứng đợi khoảng 15 phút, thì Nh chạy xe Wave một mình đến giao cho S1 một túi nylon chứa ma túy, S1 trả cho Nh 500.000đồng, rồi đem ma túy về sử dụng một mình.
Lần 7: Vào đầu tháng 10 năm 2015 (không nhớ ngày), T4 Sót (không rõ tên thật) ở ấp 4, xã F điện thoại cho Nguyễn Minh T5, sinh năm 1993, ngụ tổ 5, ấp 4, xã F hỏi có "đồ" không?, T5 hiểu T4 Sót hỏi có ma túy không, nên trả lời để tôi điện thoại rồi cho hay. T5 điện thoại cho Nh hỏi “có đồ không lên lấy” nghĩa là có ma túy không lên mua, Nh trả lời “có, lên đi”. T5 chạy xe một mình đến gặp T4 Sót lấy 300.000đồng. Nhận được tiền, T5 đến nhà Nh đưa cho Nh 300.000đồng, Nhựt chỉ nơi để ma túy trước cửa nhà cho T5 lấy. Có ma túy, T5 về chiết ra một ít ra để sử dụng, còn lại đem đưa T4 Sót tại nhà trọ “AT” thuộc ấp 1, xã F.
Lần 8: Khoảng đầu tháng 10 năm 2015 (không nhớ ngày), Phạm Quốc V (tên thường gọi B3), ở ấp 2, xã F điện thoại cho T5 hỏi “có đồ không” T5 hiểu V hỏi có ma túy không, T5 trả lời “tao không có, để tao điện trên này có hay không, rồi cho hay”. T5 điện thoại cho Nh hỏi “có đồ không lên lấy” nghĩa là có ma túy không lên mua, Nh trả lời khi nào lên cho anh biết. T5 điện thoại lại cho V hẹn gặp nhau tại khu vực cầu OH thuộc xã F, V đưa cho T5 500.000đồng. Nhận được tiền, T5 đến gặp Nh ở ngoài đường trước cửa nhà của Nh, T5 đưa 500.000đồng thì Nh giao cho T5 01 tép ma túy. Có được ma túy, T5 chiết ra một ít để sử dụng, số còn lại đưa cho V.
Lần 9: Vào đầu tháng 10 năm 2015 (không nhớ ngày), T4 Sót điện thoại hỏi T5 “con đang ở đâu”, T5 trả lời “con đang ở nhà”, T4 Sót nói “lấy cho cái năm” nghĩa là lấy cho một tép ma túy giá 500.000đồng. T5 trả lời “con không có tiền”, T4 Sót bảo “mầy chạy ra nhà trọ AT, tao đưa tiền cho”. T5 đi xe môtô 68V7- 28xx một mình đến thì T4 bảo chỉ mua ma túy giá 400.000đồng. Nhận được tiền, T5 đến nhà Nh đưa cho Nh 400.000đồng, Nhựt chỉ nơi để ma túy trước cửa nhà cho T5 lấy đem về đưa T4 Sót tại nhà trọ “AT”.
Lần 10: Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2015, T5 điện thoại hỏi Nh có ở nhà không đến mua 400.000đồng ma túy, Nh trả lời “mầy đến nhà tao để lấy, tao đang ở nhà”. Khoảng 30 phút sau, T5 đến nhà đưa cho Nh 400.000đồng, Nh chỉ ma túy để dưới nón bảo hiểm trên bàn gỗ trong nhà của Nh. T5 nhận ma túy đem về chiết ra một ít để sử dụng, phần còn lại, T5 bán cho chị Nguyễn Thanh Ng, ngụ tại huyện TM với giá 400.000 đồng.
Lần 11: Ngày 13/10/2015, Phạm Quốc V gọi điện thoại bảo T5 “mày đem cho tao hai bịch” nghĩa là V bảo T5 bán hai tép ma túy, mỗi tép 500.000đồng, T5 nói “để tao điện cho hay”. T5 gọi điện thoại cho Nh hỏi có ở nhà không T5 đến mua ma túy, Nh trả lời có. T5 đến nhà gặp Nh mua 03 tép ma túy với giá 700.000đồng, T5 đưa cho Nh 650.000đồng, thiếu lại 50.000đồng. Có ma túy, T5 gặp V và giao 02 tép, V nói “khi nào có tiền tao đưa”, T5 nói “hai tép đó giá 800.000đồng”, còn lại một tép T5 mang về chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang, thu giữ của T5 tép ma túy này.
Lần 12: Khoảng 19 giờ cuối tháng 2 năm 2016 (không nhớ ngày), Lê Văn T6, sinh năm 1991, ngụ tổ 12, ấp 2, xã F muốn sử dụng ma túy, nên điện thoại em vợ Nguyễn Thị Bích H4, sinh năm 1993, ngụ tổ 23, ấp 1, xã W (cũng là bạn giá của Nh) hỏi có Nh ở nhà không?, thì H4 trả lời “có, có chuyện gì không”, thì T6 nói “kiếm Nh để mua hàng giá 300.000đồng”, H4 trả lời “để hỏi Nh rồi điện thoại lại cho hay”. H4 điện thoại cho Nh nói "anh T6 điện thoại cho em, hỏi kiếm lấy đồ gì đó", Nh trả lời "Có, em kêu anh T6 chạy đến quán cà phê CX gần ngã ba BT thuộc xã F gặp anh", (H4 không biết T6 hỏi Nh lấy "đồ" là loại đồ gì, vì H4 không biết Nh bán ma túy). Sau đó, H4 gọi lại cho T6 nói “anh Nh nói có và kêu anh chạy lên quán cà phê CX gặp". T6 một mình chạy xe đến quán CX ngồi chờ khoảng 15, có một người thanh niên dáng người ốm, khoảng 20-24 tuổi (T6 không biết tên và địa chỉ cụ thể) đến gặp T6 và hỏi “phải anh lấy đồ của anh Nh không?”, T6 trả lời phải, thì người thanh niên đưa cho T6 một đoạn ống hút màu xanh được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy, T6 đưa cho người thanh niên này số tiền 300.000đồng, rồi đem ma túy về sử dụng một mình.
Lần 13: Vào đầu tháng 01 năm 2016, Đặng Quốc Đ (tên thường gọi Đ ma), sinh năm 1991, ngụ tổ 22, khóm 3, phường 11, thành phố C, muốn sử dụng ma túy nên điện thoại rủ Võ Văn Đ1 (tên thường gọi Đ1 đen), sinh năm 1994, ngụ ấp 1, xã F, mỗi người hùn 150.000đồng mua ma túy sử dụng, Đ đồng ý. Đ gọi điện thoại cho Nh hỏi "đang ở đâu vậy ông bạn, tôi xuống lấy cái ba về chơi coi" nghĩa là mua 300.000đồng ma túy, Nh đồng ý và bảo Đ xuống nhà Nh đang thuê ở sau Trường mẫu giáo F để giao dịch, Nh còn dặn Đ chỉ đi một mình thôi, Đ trả lời đi chung với Đ1 Đen đừng có lo, Nh đồng ý. Khoảng 24 giờ, Đ chở Đ1 xuống điểm hẹn, Đ gọi điện thoại cho Nh thì Nh hướng dẫn Đ leo qua hàng rào vào nhà, Đ nhét 300.000đồng qua khe cửa sổ, Nh ném qua cửa sổ gói ma túy bọc trong tấm giấy bạc, Đ nhặt lên đem về nhà Đ cùng Đ sử dụng hết.
Lần 14: Cách Tết Âm lịch năm 2016 khoảng 10 ngày, Đ rủ Đ1 sử dụng ma túy, mỗi người hùn 150.000đồng. Đ gọi đện thoại cho Nh hỏi "đang ở đâu, còn hàng không tôi lấy ba" nghĩa là mua 300.000đồng ma túy, Nh yêu cầu lấy cái năm luôn đi, cho thiếu lại 200.000đồng, Đ nói chỉ lấy 300.000đồng thôi. Nh hẹn Đ đến ngã ba BT để giao dịch. Đến khoảng 21 giờ, Đ đến điểm hẹn gặp Nh giao cho 01 tép ma túy, Đ trả cho Nh 300.000đồng, rồi cùng với Đ1 đem về nhà Đ1 sử dụng hết.
Lần 15: Ngày mùng 8 Tết năm 2016, tại nhà Đ rủ Đ1 hùn tiền mua ma túy sử dụng, Đ1 hùn 300.000đồng còn Đ bỏ ra 200.000đồng. Đ ra ngoài đường gọi điện thoại cho Nh hỏi mua ma túy, Nh hỏi mua bao nhiêu, Đ trả lời 500.000đồng và hẹn Nh đem ma túy đến nhà giao cho Đ. Khoảng 30 phút sau, Nh chạy xe đến nhà Đ giao cho Đ 01 tép ma túy, Đ trả 500.000đồng, rồi Đ đem ma túy vào nhà cùng với Đ1 sử dụng.
Lần 16: Cách lần 15 khoảng 2 tuần, Đ1 hùn 100.000đồng còn Đ bỏ ra 200.000đồng để mua ma túy sử dụng. Đ điện thoại bảo Nh đến ngã ba XX gần nhà cô giáo Th1 thuộc Phường 11, thành phố C bán cho Đ 300.000đồng ma túy. Khoảng 15 phút sau, Nh chạy xe đến trước đầu hẻm nơi điểm hẹn ném tép ma túy xuống đường, Đ trả cho Nh 300.000đồng, rồi nhặt tép ma túy đem về nhà cùng Đ1 sử dụng.
Nguyễn Minh Nh còn cùng Đ1 và Đ sử dụng ma túy 01 lần tại quán Karaoke CVvà 02 lần tại nhà Đ. Ngoài ra, Nh cùng với Trần Hữu Ph, sinh năm 1990, ngụ ấp 5, xã PM, Huyện C sử dụng chung ma túy nới nhau tại nhà Nh 02 lần.
Cơ quan điều tra thu giữ của Nh số tiền 1.600.000đồng; 01 điện thoại Oppo-R8106 dùng để liên lạc bán ma túy.
* Sau khi nhận hồ sơ để điều tra theo thẩm quyền, ngày 27/7/2016, Cơ quan điều tra Công an thành phố C tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Trung Tr, về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy", khám xét khẩn cấp tại nhà của Tr thu giữ:
02 ống nhựa màu trắng có hàn kín một đầu;
01 nỏ thủy tinh màu trắng;
02 cây kéo kim loại màu trắng;
01 hộp quẹt kim loại màu trắng có chữ HONEST;
01 hộp quẹt kim loại màu trắng hình tròn;
01 bình gas màu đen, ký hiệu LIGHTER GAS 5.40Z.
3.300.000đồng, niêm phong;
01 điện thoại Iphone màu trắng vàng và 01điện thoại 1200 màu đen dùng để liên lạc bán ma túy;
01 giấy đăng ký xe số 019880 tên Lê Tấn L2 và 01 giấy đăng ký xe số 0224524 tên Lê Hoài Ch1 của gia đình Tr mua xe của người khác, nhưng chưa làm thủ tục sang tên;
01 Chứng minh nhân dân số 341141465 tên Phạm Công Th3 do Tr nhặt được ngoài đường;
01 Chứng minh nhân dân số 341141903 và 01 Giấy phép lái xe số 870034022183 tên Nguyễn Trung Tr;
01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển số 59X2-175.86 kèm theo giấy đăng ký xe tên Trần Minh Th4. Xe này Tr mượn của bạn tên Dương Văn H5, sinh năm 1980, ngụ tổ 36, khóm MP, phường 3, thành phố C, để sử dụng. Anh H5 không biết Tr mượn xe mình để đi bán ma túy.
Trong suốt quá trình điều tra, Tr chỉ thừa nhận có mua ma túy về sử dụng chứ không bán cho ai, nhưng căn cứ lời khai, đối chất, nhận dạng của những người mua ma túy của Tr thống nhất một cách khách quan phù hợp với vật chứng thu giữ của Tr, nên có đủ căn cứ chứng minh Tr đã 25 lần bán trái phép chất ma túy cho nhiều người thu được số tiền 25.150.000đồng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 23 giờ (không nhớ ngày) đầu tháng 9 năm 2015, Võ Trung H điện thoại cho Tr hỏi mua "1 gốc 8 ma túy" thì Tr trả lời giá 1.000.000đồng, H đồng ý. Tr hẹn H đến nhà của V1 Bọng (không rõ tên thật) thuộc Phường 4, thành phố C để giao dịch. Khoảng 15 phút sau, H đến nhà của V1 Bọng thì thấy Tr ngồi một mình trước băng ghế đá, Tr đưa cho H 01 túi nylon màu trắng chứa ma túy, H trả cho Tr 1.000.000đồng.
Lần 2: Khoảng 20 giờ (không nhớ ngày) đầu tháng 9 năm 2015, H điện thoại cho Tr hỏi mua ma túy với giá 600.000đồng, Tr trả lời có và hẹn H đến đường đal gần cầu KC để giao dịch. Khoảng 15 phút sau, H chạy đến điểm hẹn gặp Tr đưa cho H 01 túi nylon màu trắng chứa ma túy, H trả cho Tr 600.000đồng.
Lần 3: Khoảng 07 giờ (không nhớ ngày) giữa tháng 9 năm 2015, H điện thoại cho Tr hỏi mua “1 gốc 8 ma túy”, Tr nói giá 1.000.000đồng và hẹn H đến Chợ Phường 11 để giao ma túy. Khoảng 30 phút sau, H một mình chạy đến điểm hẹn nhưng không gặp Tr. H điện thoại cho Tr trả lời “mầy đợi một tý”. Đợi khoảng 10 phút thì Tr đến đưa cho H 01 túi nylon màu trắng chứa ma túy, H trả cho Tr 1.000.000đồng.
Lần 4: Vào khoảng 23 giờ 30 phút (không nhớ ngày) đầu tháng 10 năm 2015, H, điện thoại cho Tr hỏi mua “1 gốc 8 ma túy", Tr trả lời có và hẹn H đến Cầu NTH thuộc phường E để giao dịch. Khoảng 20 phút sau, H một mình chạy đến Cầu NTH thì gặp Tr đi một mình bằng xe loại Wave màu đen (không nhớ biển số), Tr giao cho H 01 bịch ma túy đựng trong túi nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên ngoài có quấn băng keo màu vàng, H trả cho Tr 1.000.000đồng.
Lần 5: Khoảng 10 giờ (không nhớ ngày) giữa tháng 10 năm 2015, H điện thoại cho Tr hỏi mua “nữa hộp năm ma túy”, Tr trả lời “có, giá 3.000.000đồng”, H đồng ý. Tr hẹn H đến nhà của Tr ở gần chợ G, huyện C để giao ma túy. Khoảng 50 phút sau, H chạy xe đến nhà của Tr nhưng không gặp nên điện thoại. Tr ở trong nhà mở cửa ra và đưa cho H 01 bịch ma túy đựng trong túi nylon màu trắng loại túi kẹp, H trả cho Tr 3.000.000đồng.
Lần 6: Khoảng 19 giờ 30 phút (không nhớ ngày) cuối tháng 10 năm 2015, H điện thoại cho Tr hỏi mua “nữa hộp năm ma túy”, thì Tr trả lời “giá 3.000.000đồng”, H đồng ý. Tr hẹn H đến nhà của Tr để giao dịch. Khoảng hơn một giờ sau, H một mình chạy xe đến nhà nhưng không gặp Tr nên điện thoại. Tr ra mở cửa nhà ra đưa cho H 01 bịch ma túy đựng trong túi nylon màu trắng loại túi kẹp, H trả cho Tr 3.000.000đồng.
Lần 7: Khoảng 18 giờ (không nhớ ngày) cuối tháng 02 năm 2016, Trần Văn L1, sinh năm 1988, ngụ ấp AB, xã AL, huyện TN rủ Tăng Hữu Nh1, sinh năm 1994, ngụ ấp LT, xã PT A, huyện TN cùng bạn ngoài xã hội tên Gi và D, hùn mỗi người 250.000đồng mua ma túy sử dụng, tất cả đồng ý thì L1 gọi điện thoại cho Tr sim số 0939.006.xxx hỏi mua 1.000.000đồng, Tr đồng ý và bảo L1 chạy xuống nhà của Tr lấy, L1 rủ Nh1 đi cùng khi đến khu vực gần chợ G, huyện C thì L kêu Nh1 đứng đợi còn L1 đi gặp Tr để mua ma túy, Nh đứng đợi khoảng 10 phút, thì L1 quay lại và nói đã mua được ma túy, nên Nh1 cùng với L1 mang ma túy về khu đất trống vắng người ở huyện TN cùng Gi và D sử dụng.
Lần 8: Khoảng 18 giờ 30 phút (không nhớ ngày cụ thể) đầu tháng 3 năm 2016, Nh, L1, Gi và D rủ nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng. L1 điện thoại cho Tr hỏi mua "1 gốc 8 ma túy" với giá 1.000.000đồng, thì Tr trả lời có và kêu L1 chạy xuống nhà của Tr giao dịch. L1 không đi mà bảo Nh1 đi và đem theo điện thoại của L1 theo để liên lạc với Tr. Khi đi đến gần Cầu G, Nh1 điện thoại thì Tr bảo Nh1 đứng ở Cầu đợi. Khoảng 05 phút sau, Tr đến gặp Nh1 giao cho 950.000đồng, Nh1 xin Tr 50.000đồng đổ xăng. Nhận tiền xong, Tr chỉ Nh1 chỗ để ma túy đã được dán băng keo hai mặt trên thành cầu, Nh1 lại lấy, rồi chạy xe về khu đất trống vắng người ở huyện TN cùng L1, Gi và D sử dụng.
Lần 9: Khoảng 18 giờ (không nhớ ngày) giữa tháng 3 năm 2016, Nh1, L1, Gi và D rủ nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng. Nh1 dùng điện thoại của L1 gọi cho Tr hỏi mua "1 gốc 8 ma túy" với giá 1.000.000đồng, Tr trả lời có và kêu Nh1 chạy xuống nhà của Tr giao dịch. Nh1 đi một mình đem theo điện thoại của L1 để liên lạc với Tr, khi đến Chợ G, Nh1 điện thoại thì Tr bảo Nh1 đến đợi ở Cầu G. Khoảng 05 phút sau, Tr đến giao cho Nh1 01 túi nylon có dán keo hai mặt màu trắng sữa bên trong chứa ma túy, Nh1 trả cho Tr 1.000.000đồng, rồi chạy xe về khu đất trống vắng người ở huyện TN cùng L1, Gi và D sử dụng.
Lần 10: Khoảng cuối tháng 12 năm 2015 (không nhớ ngày), Phạm Quốc S1 (tên thường gọi S1 Ốc Bưu) điện thoại cho Tr hỏi mua 500.000đồng ma túy, Tr hẹn S1 địa điểm giao dịch tại khu vực Cầu ĐT. S1 chạy xe một mình đến dưới gầm Cầu thì gặp Tr đang ở đó. S1 đưa cho Tr 500.000đồng, Tr giao cho S1 một túi nylon hàn kín chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 11: Khoảng cuối tháng 12 năm 2015 (không nhớ ngày), S1 điện thoại hỏi mua ma túy của Tr với giá 400.000đồng, Tr hẹn S1 đến khu vực Cầu ĐT để giao dịch. S1 chạy xe một mình đến dưới gầm Cầu nhưng không gặp Tr, S1 đợi khoảng 15 phút thì Tr đến một mình, S1 đưa cho Tr 400.000đồng, Tr giao cho S1 một túi nylon hàn kín chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 12: Khoảng tháng 2 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 điện thoại cho Tr hỏi mua 500.000đồng ma túy. Tr hẹn S1 địa điểm giao dịch tại khu vực Cầu ĐT. S1 chạy xe một mình đến dưới gầm Cầu nhưng không gặp Tr, S1 đợi khoảng 15 phút Tr đến một mình. S1 đưa cho Tr 500.000đồng, Tr giao cho S1 một túi nylon hàn kín chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 13: Khoảng tháng 02 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 điện thoại hỏi mua ma túy của Tr với giá 500.000đồng. Tr hẹn S1 đến khu vực Cầu ĐT để giao dịch. S1 chạy xe một mình đến dưới gầm Cầu nhưng không gặp Tr, S1 đợi khoảng 15 phút Tr đến một mình. S1 đưa cho Tr 500.000đồng, Tr giao cho S1 một túi nylon hàn kín chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 14: Khoảng giữa tháng 02 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 điện thoại hỏi mua ma túy của Tr với giá 500.000đồng. Tr hẹn S1 địa điểm giao dịch tại nhà của Tr. S1 chạy xe một mình đến nhà của Tr và gặp Tr đang ở đó, S1 đưa 500.000đồng, Tr giao cho S1 ma túy được đựng trong túi nylon hàn kín hai đầu, S1 đem về nhà sử dụng.
Lần 15: Khoảng giữa tháng 02 năm 2016, S1 điện thoại cho Tr hỏi mua 500.000đồng ma túy. Tr bảo S1 đến nhà Trực giao dịch. S1 chạy xe một mình đến nhà nhưng không gặp Tr nên S1 điện thoại cho Tr bảo S1 đến quán nước mía gần nhà Tr. S1 đến điểm hẹn gặp và đưa cho Tr 500.000đồng, Tr giao cho S1 một túi nylon hàn kín chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 16: Khoảng cuối tháng 02 năm 2016 (không nhớ ngày), S1 điện thoại hỏi mua ma túy của Tr với giá 500.000đồng. Tr trả lời có và hỏi S1 đang ở đâu, S1 bảo đang ở nhà nên Tr đến nhà của S1 trên đường LL khóm 3, phường 2, thành phố C, giao cho S1 ma túy được đựng trong bịch nylon hàn kín hai đầu, S1 trả cho Tr 500.000đồng, rồi đem vào nhà sử dụng một mình.
Lần 17: Khoảng 21 giờ 30 phút (không nhớ ngày) trong tháng 3 năm 2016, S1 điện thoại cho Tr hỏi mua 500.000đồng ma túy. Tr bảo không có xe nên hẹn S1 đến nhà của Tr. S1 chạy xe đến gặp Tr đang đứng trước cửa nhà thì S1 đưa cho Tr 500.000đồng, Tr giao cho S1 một túi nylon hàn kín chứa ma túy đem về nhà sử dụng.
Lần 18: Khoảng 20 giờ (không nhớ ngày) giữa tháng 9 năm 2015, Trương Kim H6, sinh năm 1969, ngụ 562/71 đường NK, Phường 4, quận PN, TP. Hồ Chí Minh, chỗ ở Khách sạn J số 147 PHL, phường 4, thành phố C, không còn ma túy để bán, thông qua bạn bè ngoài xã hội giới thiệu cho H6 biết Tr có bán ma túy. H6 điện thoại cho Tr hỏi mua "1 gốc 8 ma túy" với giá 1.800.000đồng. Tr đồng ý bán cho H6, nhưng do H6 đang trực quản lý tại khách sạn J nên bảo Tr đem ma túy giao cho H6 tại quầy lễ tân khách sạn, Tr đồng ý. Khoảng 30 phút sau, Tr một mình chạy xe Wave màu đỏ (không nhớ biển số) đến, Tr vào quầy lễ tân gặp H6 đưa cho 1.800.000đồng, Tr giao cho H6 ma túy được đựng trong 01 túi nylon hàn kín hai đầu, bên ngoài quấn băng keo đen. Có ma túy, H6 mang vào trong phòng phân ra thành nhiều tép nhỏ để bán cho những người nghiện, còn Tr đi đâu làm gì H6 không biết.
Lần 19: Khoảng 16 giờ (không nhớ ngày) giữa tháng 10 năm 2015, H6 không còn ma túy để bán nên điện thoại cho Tr hỏi mua "1 gốc 8 ma túy", Tr báo giá 1.600.000đồng (vì Tr biết H6 mua để bán lại nên hạ giá xuống). Do H6 đang trực quản lý tại khách sạn J nên bảo Tr đem ma túy giao cho H6 tại quầy lễ tân khách sạn, Tr đồng ý. Khoảng 30 phút sau, Tr một mình chạy xe Wave màu đỏ (không nhớ biển số) đến, Tr vào quầy lễ tân gặp H6 đưa cho 1.600.000 đồng, Tr giao cho H6 ma túy được đựng trong 01 túi nylon hàn kín hai đầu, bên ngoài quấn băng keo đen. Có ma túy, H6 mang vào trong phòng phân ra thành nhiều tép nhỏ để bán cho những người nghiện.
Lần 20: Khoảng 15 giờ (không nhớ ngày) đầu tháng 11 năm 2015, H6 điện thoại cho Tr hỏi mua 1 hộp 5 ma túy, Tr báo giá 3.000.000đồng, H6 đồng ý mua. Tr bận việc nên không đến khách sạn J giao ma túy được, nên hẹn H6 đến khu vực gần Bệnh viện TT có quán cà phê, sẽ có người giao ma túy giùm Tr. H6 một mình chạy xe đến địa điểm như đã hẹn, gặp một người thanh niên không biết tên khoảng 30 tuổi hỏi H6 “có phải anh H6 không?”, H6 trả lời “phải”, thì người thanh niên này đưa cho H6 một bịch ma túy đựng trong gói thuốc JET. H6 đưa cho người thanh niên này số tiền 3.000.000đồng. Có ma túy, H6 đem về phòng phân ra thành nhiều tép nhỏ để bán cho những người nghiện.
Lần 21: Khoảng 12 giờ cuối năm 2015 (không nhớ ngày, tháng), Đào Văn M1, sinh năm 1993, ngụ tổ 14, ấp 2, xã G, huyện C và bạn ngoài xã hội tên Th rủ nhau hùn tiền lại mua ma túy sử dụng, Th hùn 100.000 đồng còn Mỹ bỏ ra 200.000 đồng. Nghe Tr có bán ma túy nên M1 điện thoại cho bạn xin số điện thoại của Tr nhưng không có, nên Th gọi điện thoại cho bạn xin được số điện thoại của Tr đưa cho M1. M1 gọi cho Tr hỏi "Có đồ không, bán cho tôi cái ma túy đá 300.000 đồng", Tr hẹn M1 đến ngã ba BT giao dịch. Khoảng 13 giờ, M1 chở Th đến điểm hẹn đơi 5 phút thì Tr đến. Th đưa cho Tr 300.000 đồng, Tr giao cho Th gói thuốc JET bên trong có tép ma túy. Sau đó, M1 và Th về nhà của H5 gần cây xăng NG thuộc ấp 3, xã G sử dụng hết.
Lần 22: Khoảng 01-02 giờ kHa tháng 01/2016 (không nhớ ngày), Nguyễn Minh Nh (là em bà con của Tr) điện thoại cho Tr hỏi “anh Tr có đồ (ma túy) không?”, Tr trả lời “có và hỏi mầy lấy bao nhiêu”, Nh nói “em lấy năm xị” nghĩa là mua 500.000 đồng ma túy. Tr hẹn Nh vô Cầu CĐ thuộc xã G, huyện C để giao dịch. Sau đó, Nh chạy xe Wave màu đen một mình đến Cầu CĐ nhưng không gặp Tr, nên Nh điện thoại cho Tr nói “em tới Cầu CĐ rồi nè”, Tr trả lời “Tao để ma túy trong gói thuốc JET trên lang can cầu, mầy lấy ma túy và để tiền vào đó tý tao ra lấy”. Nh nhìn trên lang can cầu thì thấy có gói thuốc JET, mở ra xem bên trong có 01 tép ma túy, Nh lấy tép ma túy và để vào bên trong gói thuốc 500.000 đồng, rồi đem ma túy về nhà sử dụng.
Lần 23: Khoảng 24 giờ khoảng tháng 01 năm 2016 (không nhớ ngày, cách lần thứ nhất Nh mua ma túy của Tr khoảng 20 ngày), Nh đang đi chơi ở thành phố C, thì điện thoại cho Tr hỏi mua 500.000 đồng ma túy. Tr hẹn Nh đến Cầu CĐ để lấy ma túy. Sau đó, Nh chạy xe Wave màu đen một mình đến cầu CĐ nhưng không gặp Tr, nên Nh điện thoại cho Tr nói “Em tới Cầu CĐ rồi nè”, Tr trả lời “Tao để ma túy trong gói thuốc JET trên lang can cầu, mầy lấy ma túy và để tiền vào đó tý tao ra lấy”. Nh nhìn trên lang can cầu thì thấy có gói thuốc JET, mở ra xem bên trong có 01 tép ma túy, Nh lấy tép ma túy và để vào bên trong gói thuốc 500.000 đồng, rồi đem ma túy về nhà sử dụng.
Lần 24: Khoảng 24 giờ (không nhớ ngày, cách lần thứ hai Nh mua ma túy của Tr khoảng 20 ngày), Nh cũng đang đi chơi ở thành phố C, thì điện thoại cho Tr hỏi “Anh có đồ (ma túy) không?”, Tr trả lời “có và hỏi mầy lấy bao nhiêu?”, Nh nói “Em lấy 500.000 đồng”. Tr tiếp tục hẹn Nh đến Cầu CĐ để lấy ma túy. Sau đó, Nh chạy xe Wave màu đen một mình đến cầu CĐ nhưng không gặp Tr, nên Nh điện thoại cho Tr nói “em tới Cầu CĐ rồi nè”, Tr trả lời “Tao để ma túy trong gói thuốc JET trên lang can cầu, mầy lấy ma túy và để tiền vào đó tý tao ra lấy”. Nh nhìn trên lang can cầu thì thấy có gói thuốc JET, mở ra xem bên trong có 01 tép ma túy, Nh lấy tép ma túy và để vào bên trong gói thuốc 500.000 đồng, rồi đem ma túy về nhà sử dụng.
Lần 25: Khoảng 24 giờ khoảng đầu tháng 3 năm 2016 (không nhớ ngày), Nh điện thoại cho Tr hỏi mua 500.000 đồng ma túy. Tr tiếp tục hẹn Nh đến Cầu CĐ để lấy ma túy. Sau đó, Nh chạy xe Wave màu đen một mình đến cầu CĐ nhưng không gặp Tr, nên Nh điện thoại cho Tr nói “em tới Cầu CĐ rồi nè”, Tr trả lời “Tao để ma túy trong gói thuốc HERO trên lang can cầu, mầy lấy ma túy và để tiền vào đó tý tao ra lấy”. Nh nhìn trên lang can cầu thì thấy có gói thuốc JET, mở ra xem bên trong có 01 tép ma túy, Nh lấy tép ma túy và để vào bên trong gói thuốc 500.000 đồng, rồi đem ma túy về nhà sử dụng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2017/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố C đã quyết định:
- Tuyeân boá các bị cáo Nguyễn Trung Tr, Nguyễn Minh Nh và Võ Trung H phaïm toäi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 194 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Tr 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2016.
- AÙp duïng: Điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Xöû phaït bò caùo Nguyễn Minh Nh 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2016.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 194 và điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Trung H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2016.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 28 tháng 6 năm 2017, bị cáo Nguyễn Trung Tr có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo,
XÉT TH Y:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trung Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; căn cứ vào lời khai của những người mua ma túy của bị cáo xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Từ đầu tháng 9 năm 2015 đến đầu tháng 3 năm 2016, bị cáo Trực đã 25 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Võ Trung H, Trần Văn L1, Tăng Hữu Nh1, Phạm Quốc S1, Trương Kim H4, Đào Văn M1, Th, Nguyễn Minh Nh với số tiền thu lợi bất chính là 25.150.000 đồng.
Xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Trung Tr là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận biết được sử dụng ma túy không có tác dụng cho con người. Do đó, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiêm cấm mua bán, vận chuyển và tàng trữ trái phép chất ma túy. Mục đích nghiêm cấm là để bảo đảm sức khỏe cho con người. Vì việc sử dụng ma túy là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh căn bệnh hiểm nghèo và dẫn đến tội phạm khác. Như vậy, bị cáo đã gây ra cho chính bị cáo và những người khác có cuộc sống không hạnh phúc và đau khổ. Vì sử dụng ma túy sẽ phát sinh căn bệnh hiểm nghèo, còn mua bán ma túy là vi phạm pháp luật. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy sau khi án sơ thẩm tuyên ngày 04/7/2017 gia đình của bị cáo Tr có nộp 20.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính mà bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, đây là tình tiết mới để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Trung Tr.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Trung Tr. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh là có cơ sở nên chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Trung Tr. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung Tr.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Trung Tr 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2016.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nh n:
| - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND TP. C; - VKSND TP. C; - CCTHADS TP. C; - Trại tạm giam tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Tháp; - Phòng KTNV-THA.TA tỉnh Đồng Tháp; - Lưu: HSVA (Trúc). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ H C THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tô hú Đông |