- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thúy L - môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thúy L.
- Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 242/2026/HS-PT Ngày 14 tháng 4 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường – Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Nguyễn Tấn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2026/TLPT-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Trần Thị Thúy L; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 784/2025/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị Thúy L, sinh ngày 01/01/1988 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã N, thành phố Cần Thơ); chỗ ở: 5 Â, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Quản lý nhà hàng; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Phan Thị H; chồng con: không có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/12/2023, đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Võ Đan M và Luật sư Huỳnh Ái C – Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt)
(Trong vụ án, còn có các bị cáo khác không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 23 giờ 30 phút và 23 giờ 40 phút ngày 17/12/2023, Phòng C2 Công an Thành phố H phối hợp với Công an P và Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn “Phụng Hoàng”, địa chỉ số I T, Phường E, Quận E và khách sạn “Valentine”, địa chỉ số I N, Phường I, Quận E. Kết quả phát hiện tại phòng 602, 603 và 604 của khách sạn “Phụng Hoàng” có 03 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm gồm Châu Vi T1 và Cao Thị Huỳnh N (sinh năm 1999), Châu Chiêu N1 và Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1991), Hồ Chí K và Nguyễn Thị Thùy T2 (sinh năm 2000), tại phòng 104 và 105 của khách sạn “Valentine” có 02 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm gồm Jhou W (quốc tịch Trung Quốc) và Đặng Thị Mỹ N2 (sinh năm 1994), T-S (quốc tịch Trung Quốc) và Nguyễn Thị Tùng L1 (sinh năm 1998). Qua làm việc, những người bán dâm Như, H1, T2, N2, L1 khai nhận đều là tiếp viên của nhà hàng K1 “T5”, địa chỉ số A T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là nhà hàng T5).
Cùng thời điểm, Phòng C2 Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra tại lầu 1, 2 và 5 Nhà hàng T5, phát hiện các đối tượng có liên quan hoạt động môi giới mại dâm tại đây gồm Nguyễn Hữu C1 là tổng quản lý nhà hàng, Nguyễn Quốc A là quản lý tiếp viên nữ, Đỗ Xuân H2 là bảo vệ giám sát tiếp viên nữ, Lê Thị D1, Trần Thị Thúy L đều làm quản lý các tiếp viên nữ cùng một số đối tượng khác có liên quan, đồng thời thu giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan đến hoạt động của nhà hàng “Tài Nguyên Fortuner II” (bút lục số 361, 362).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành làm việc với C1, Quốc A, H2, D1, L cùng một số đối tượng khác, tất cả đều khẳng định nhà hàng “Tài Nguyên Fortuner II” do Zhang L2 và Đinh Thị Thanh T3 làm chủ. Ngày 20/12/2023, Zhang L2 và T3 đã đến Phòng C2 Công an Thành phố H đầu thú (bút lục số 4).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Z, T3, C1, Quốc A, H2, D1, L khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng tháng 5/2022, Zhang L2 (quốc tịch Trung Quốc) cùng T3 (sống chung với nhau như vợ chồng) nhận sang nhượng lại nhà hàng “Tài Nguyên Fortuner II” để kinh doanh ăn uống, hát karaoke. Thời gian đầu, Zhang L2 trực tiếp quản lý, điều hành Nhà hàng, đến tháng 02/2023, T3 bắt đầu cùng tham gia quản lý chung tại Nhà hàng. Zhang Lei và T3 thuê C1 làm tổng quản lý Nhà hàng, Quốc A làm quản lý tiếp viên nữ, H2 làm bảo vệ giám sát tiếp viên nữ, D1 và L làm quản lý tiếp viên nữ. Ngoài ra, Zhang L2 và T3 còn thuê Từ H3 làm quản lý phục vụ nam, La Thị Diệu làm quản lý tiếp viên nữ, Lê Huỳnh Hiếu H4 làm quản lý nhân viên nữ, Đinh Ngọc B làm nhân viên phục vụ, Đỗ Thị Hồng Y làm nhân viên thu ngân. Để tăng lượng khách đến ăn uống, hát karaoke qua đó tăng lợi nhuận của Nhà hàng, thông qua các cuộc họp với các nhân viên quản lý, Zhang L2 và T3 cho phép các tiếp viên nữ của Nhà hàng đi ra ngoài bán dâm cho khách. Khi khách đến ăn uống và có nhu cầu mua dâm sẽ trao đổi và thỏa thuận trực tiếp với các quản lý tiếp viên nữ của Nhà hàng để điều tiếp viên nữ đi ra ngoài bán dâm, giá 01 lần bán dâm là 4.000.000 đồng và đi qua đêm là 7.000.000 đồng.
Việc môi giới mại dâm tại Nhà hàng T5 được thực hiện như sau: Hàng ngày, khi các tiếp viên nữ đến Nhà hàng làm việc thì H2 có nhiệm vụ ghi mã số và tên tiếp viên nữ vào sổ và hỏi có đi bán dâm không, nếu đi bán dâm thì khi viết tên vào sổ sẽ viết chữ hoa đầu tiên, không đi bán dâm thì viết chữ thường rồi báo cho các quản lý Chí, Quốc A, D1 và L biết. Sau đó, C1 gửi thông tin tiếp viên nữ bán dâm và không bán dâm lên nhóm (Telegram 1127) của Nhà hàng để các quản lý và chủ Nhà hàng biết, theo dõi. Khi khách đến Nhà hàng ăn uống có yêu cầu tiếp viên nữ phục vụ thì các quản lý tiếp viên nữ sẽ báo lại cho Quốc A biết để Quốc A dẫn tiếp viên nữ đến các cửa phòng, sau đó quản lý sẽ dẫn các tiếp viên nữ vào phòng cho khách chọn, khi vào phòng các tiếp viên nữ sẽ đứng thành 02 hàng, quy định 01 bên có bán dâm và 01 bên không bán dâm. Khi khách có nhu cầu mua dâm thì các tiếp viên nữ sẽ báo cho các quản lý tiếp viên nữ biết để theo dõi. Nếu tiếp viên nữ đi ra ngoài Nhà hàng để bán dâm trước 22 giờ 30 phút thì phải viết giấy xin về sớm rồi trình cho Chí duyệt đồng ý vào giấy, sau đó tiếp viên đưa giấy cho H2 thì mới được phép ra khỏi Nhà hàng để đi bán dâm. Từ 22 giờ 30 phút đến 24 giờ, tiếp viên nữ đi ra khỏi Nhà hàng thì phải báo cho Quốc A, khi Quốc A đồng ý sẽ báo mã số tiếp viên cho H2 để giải quyết cho ra ngoài Nhà hàng.
Khoảng 19 giờ ngày 17/10/2023, các đối tượng Châu Vi T1, Châu Chiêu N1 và Hồ Chí K đến nhà hàng “Tài Nguyên Fortuner II” để hát karaoke và ăn uống tại phòng 202. Lúc này, L dẫn nhiều tiếp viên vào phòng cho T1, N1 và K chọn, các tiếp viên nữ đứng thành 02 hàng (quy định 01 bên bán dâm và 01 bên không bán dâm). T1, N1 và K chọn các tiếp viên gồm Cao Thị Huỳnh N, Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị Thùy T2 ngồi phục vụ ăn uống và hát karaoke. Do có nhu cầu mua dâm nên N1 hỏi L việc cho các tiếp viên đi ra ngoài nhà hàng bán dâm thì L đồng ý, thỏa thuận giá bán dâm qua đêm với 01 tiếp viên là 7.000.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, nhóm của N1 thanh toán tiền hóa đơn ăn uống tại Nhà hàng. Sau đó, H1 gọi điện thoại cho tiếp tân khách sạn “Phụng Hoàng” (địa chỉ số I T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh) đặt 03 phòng 602, 603 và 604 để thực hiện việc mua bán dâm. Đến khoảng 23 giờ 10 phút T1, N1, K, Huỳnh N, H1 và Thùy T2 đi xe taxi đến khách sạn, cùng vào phòng để thực hiện việc mua bán dâm tại các phòng 602, 603, 604. Khi các cặp đang quan hệ tình dục thì Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ các bao cao su đã qua sử dụng và các điện thoại cá nhân liên quan (bút lục số 360).
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/10/2023, Jhou W và Teng T4-S (đều quốc tịch Trung Quốc) đến nhà hàng T5 để hát karaoke và ăn uống tại phòng 106. Lúc này, D1 dẫn nhiều tiếp viên nữ đến cho Jhou W, T-Sheng chọn và đứng thành 02 hàng (01 bên bán dâm và 01 bên không bán dâm). Jhou W chọn Đặng Thị Mỹ N2, T-Sheng chọn Nguyễn Thị Tùng L1 ngồi phục vụ ăn uống tiếp bia và hát karaoke. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, D1 hỏi Jhou W có mua dâm không thì Jhou W đồng ý mua dâm với giá 6.000.000 đồng/đêm. Sau đó, D1 kêu N2 và L1 lấy địa chỉ khách sạn của Jhou W, Teng T4-Sheng tại khách sạn địa “Valentine” (địa chỉ số I N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh) rồi đến khách sạn bán dâm cho Jhou W, Teng T4-Sheng tại phòng 104 và 105. Khi các cặp đang quan hệ tình dục thì Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ các bao cao su đã qua sử dụng và các điện thoại cá nhân liên quan.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Zhang L2 và T3 khai nhận: Khoảng tháng 02/2023, bắt đầu chủ trương cho các tiếp viên nữ bán dâm để tăng lượng khách đến ăn, uống qua đó tăng doanh thu và lợi nhuận của Nhà hàng, cả hai không hưởng tiền từ việc bán dâm của các tiếp viên. Quá trình kinh doanh Nhà hàng T5, Zhang L2 và T3 hưởng lợi nhuận khoảng 2.400.000.000 đồng và đã sử dụng hết số tiền này để sửa chữa, trang trí và kinh doanh Nhà hàng trên (bút lục số 192 đến số A, số A, 199). Nguyễn Hữu C1 khai nhận bắt đầu làm thuê tại Nhà hàng từ ngày 19/10/2023, chưa được hưởng tiền lương (bút lục số 108, 109). Nguyễn Quốc A khai nhận làm việc tại Nhà hàng được khoảng 06 tháng và được trả lương 66.000.000 đồng (bút lục số 106, 107). Tại phiên tòa, Nguyễn Quốc A thay đổi lời khai, khai nhận được trả lương 44.000.000 đồng. Đỗ Xuân H2 khai nhận được trả lương từ Công ty bảo vệ và không nhận được bất cứ khoản tiền lương cũng như tiền “Tip” (tiền khách cho) từ việc làm tại Nhà hàng (bút lục số 104, 105). Trần Thị Thúy L khai nhận làm việc tại Nhà hàng được khoảng 01 tháng chưa được nhận tiền lương, tuy nhiên L được cho tiền “Tip” và hưởng lợi khoảng 10.000.000 đồng (bút lục số 100, 101). Lê Thị D1 khai nhận làm việc tại Nhà hàng được khoảng 02 tháng và hưởng lương được 14.000.000 đồng, ngoài ra còn được cho tiền “Tip” khoảng 16.000.000 đồng (bút lục số 102, 103).
Đối với những người mua dâm gồm Jhou W, T-S, Hồ Chí K, Châu Chiêu N1, Châu Vi T1 và những người bán dâm gồm Nguyễn Thị Tùng L1, Nguyễn Thị H1, Đặng Thị Mỹ N2, Cao Thị Huỳnh N, Nguyễn Thị Thùy T2, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (bút lục số 1094 đến số A).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 784/2025/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Trần Thị Thúy L là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tháng tù giam về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ vào thời hạn tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 06/02/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Zhang L2, Đinh Thị Thanh T3, Lê Thị D1, Nguyễn Hữu C1, Nguyễn Quốc A, Đỗ Xuân H2, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 16/12/2025, bị cáo Trần Thị Thúy L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Thị Thúy L và người bào chữa cho bị cáo vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Bị cáo Trần Thị Thúy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng không có tài liệu kèm theo để chứng minh, xem như vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Người bào chữa cũng vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo và người bào chữa.
- Về nội dung: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Thúy L phạm tội “Môi giới mại dâm” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thúy L làm trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Thúy L vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do bị cáo không đảm bảo sức khỏe tham gia phiên tòa, tuy nhiên, bị cáo không nộp kèm theo tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lý do xin hoãn phiên tòa mà bị cáo trình bày trong đơn, do đó, việc vắng mặt của bị cáo xem như không có lý do chính đáng.
Đối với người bào chữa cho bị cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo và người bào chữa không gây cản trở cho việc xét xử nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án vắng mặt bị cáo và người bào chữa của bị cáo.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với lời khai của những bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vì muốn tăng lượng khách đến nhà hàng, thống nhất ý kiến của chủ nhà hàng và quản lý cấp trên, bị cáo Trần Thị Thúy L với vai trò là quản lý tiếp viên nữ đã đồng thuận cho việc các tiếp viên nữ ra ngoài bán dâm cho khách. Ngày 17/10/2023, Công an Thành phố H kiểm tra phát hiện việc mua bán dâm giữa các đối tượng Jhou W và Teng T4-S (đều có Quốc tịch Trung Quốc), Hồ Chí K, Châu Chiêu N1, Châu Vi T1 với Nguyễn Thị Tùng L1, Nguyễn Thị H1, Đặng Thị Mỹ N2, Cao Thị Huỳnh N, Nguyễn Thị Thùy T2 là nhân viên nữ của nhà hàng.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Thúy L về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo về hình phạt.
Hành vi của bị cáo và các bị cáo khác trong vụ án đã xâm phạm đến trật tự công cộng, thuần phong, mỹ tục, nếp sống văn minh, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung hình phạt “có tổ chức” và “đối với 02 người trở lên” nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không hưởng lợi trong vụ án nên xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo. Kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị Thúy L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thúy L.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 784/2025/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thúy L phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Trần Thị Thúy L là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tháng tù giam về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ vào thời hạn tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến ngày 06/02/2024.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Trần Thị Thúy L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VCTVKSXXPT tại TP.HCM (1); - TAND TP.HCM (2); - VKSND TP.HCM (1); - THADS TP.HCM (1); - Công an TP.HCM (1); - BCTN (1); - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu VP(5), HS(2).PPC. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |