vanban.org

Bản án 242/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

Buộc ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị C số tiền vay còn nợ là 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải liên đới chịu 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng. Bà Phạm Thị C được nhận lại 18.00… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nhung - Dam"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2025/DS-ST.
Ngày 24 – 11 – 2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Như Nguyện.

Các Hội thẩm Nhân dân:

Ông Trần Thanh Nhân.

Ông La Thanh Long.

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Sơn Thanh Phong. Thư ký Toà án Nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án Nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST – DS, ngày 05 tháng 8 năm 2025, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2025/QĐXXST – DS, ngày 15 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 188/2025/QĐST – DS ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số B14 – 15 đường số 10, khu dân cư 586, khu vực 4, phường VII, thành phố Vị Thanh, Hậu Giang. Nay là phường Vị Thanh, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 79 đường Hùng Vương, phường Vị Tân, thành phố Cần Thơ. (Đại diện theo văn bản uỷ quyền). Vắng mặt.

- Bị đơn:

1. Ông Ngô Hoàng T, sinh năm 1984.

2. Bà Phạm Thanh Đ, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp Mỹ Hiệp 1, xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Nay là xã Hỏa Lựu, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị C do ông Trần Văn Đ đại diện trình bày: Do quen biết nên vào ngày 17/7/2024, bà Phạm Thị C có cho vợ chồng ông Ngô Hoàng T, bà Phạm Thanh Đ vay số tiền là 800.000.000 đồng, có làm biên nhận, thỏa thuận thời hạn vay là 03 tháng sẽ trả lại. Sau khi đến thời hạn thanh toán thì ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ hứa hẹn nhiều lần nhưng chưa thanh toán số tiền vay còn nợ cho bà Phạm Thị C. Nay bà Phạm Thị C yêu cầu ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải có trách nhiệm trả số tiền vay còn nợ vốn tổng cộng là 800.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Tại phiên tòa, ông Trần Văn Đ đại diện cho bà Phạm Thị C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ trình bày: Vợ chồng ông bà có vay của bà Phạm Thị C số tiền là 800.000.000 đồng, nhưng đến nay ông bà mất khả năng thanh toán nên không thể trả số nợ nêu trên. Nay ông bà đồng ý trả lại số tiền nợ nêu trên cho bà Phạm Thị C nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Phạm Thị C khởi kiện ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ cho rằng vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ vay theo biên nhận nên Tòa xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ có nơi cư trú khi xác lập giao dịch tại ấp Mỹ Hiệp 1, xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Hỏa Lựu, thành phố Cần Thơ) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về nội dung tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy: ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ có vay của bà Phạm Thị C số tiền tổng cộng là 800.000.000 đồng vào ngày 17/7/2024, có làm biên nhận, thỏa thuận thời hạn 03 tháng trả là sự việc có thật do được ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ thừa nhận. Sau khi vay tiền đến nay bà Phạm Thị C yêu cầu trả nợ nhưng ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ không thực hiện việc trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay bà Phạm Thị C khởi kiện yêu cầu ông trả nợ theo biên nhận. Ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ cho rằng không có khả năng trả nợ, yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, nhưng không được sự đồng ý của bà Phạm Thị C. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Theo biên nhận vay tiền thì thời hạn vay đã hết và bà Phạm Thị C không đồng ý cho ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ trả nợ dần, nên Hội đồng xét xử xác định việc khởi kiện của bà Phạm Thị C là có căn cứ chấp nhận, buộc ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho bà Phạm Thị C.

Về phần lãi suất: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị C không yêu cầu tính lãi suất là trên cơ sở tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị đơn ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải chịu.

Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Ông Trần Văn Đ là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ là bị đơn vắng mặt và cũng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 91, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

1. Buộc ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị C số tiền vay còn nợ là 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Ngô Hoàng T và bà Phạm Thanh Đ phải liên đới chịu 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng. Bà Phạm Thị C được nhận lại 18.000.000 (mười tám triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001577 ngày 31/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Cần Thơ.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ