- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh P - Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 242/2024/HS-PT Ngày 31 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Sâm
Bà Lê Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 257/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P và người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Lê Thanh K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST, ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Thanh P, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1991 tại tỉnh Đắk Lắk; trú tại: Thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; con ông Lê Thanh K, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1969; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1995; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2014 bị cáo có hành vi đánh người khác bị Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, do người bị hại rút đơn yêu cầu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định đình chỉ vụ án số: 09 ngày 30/6/2014.
- Tại Bản án số 305/2020/HSPT ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Lê Thanh P bị tuyên phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại – Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Lê Thanh K, sinh năm 1967 (là bố ruột của bị cáo) – Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đào Ngọc C – Luật sư – Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh Đ – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 28/3/2024, Lê Thanh P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47S1-111.16 lưu thông trên tuyến đường tỉnh lộ 5 theo hướng từ thành phố B về xã E, huyện B. Khi P điều khiển xe đến đoạn đường thuộc thôn H, xã C, thành phố B thì gặp xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-240.34 do anh Y Sông N đang lưu thông cùng chiều chạy vượt qua P, Lê Thanh P cho rằng xe ô tô tải trên đi lấn sang phần đường của mình nên P bực tức nhặt 01 cục đá cầm trên tay và điều khiển xe mô tô đuổi theo ô tô xe tải, khi điều khiển xe chạy song song với xe tải thì P dùng tay ném đá trúng vào phần cánh cửa bên trái của xe ô tô, sau đó tiếp tục điều khiển xe mô tô về hướng xã E. Khi đến khu vực trường A, xã E, huyện B thì P điều khiển xe mô tô vượt lên trước và ra hiệu cho xe tải dừng lại, khi thấy xe ô tô tải do anh Y Sông N điều khiển dừng lại thì P dừng xe ở lề đường bên phải và xuống xe nhặt 03 cục đá ném liên tiếp vào đầu xe tải làm vỡ kính chắn gió phía trước và hư hỏng phần xi nhan phía trước bên phải của xe. Sau đó P rời khỏi hiện trường, anh Y Sông N đưa xe ô tô tải đến công an xã E để trình báo sự việc. Quá trình P dùng đá ném vào xe ô tô tải được anh Y Sông N dùng điện thoại di động để quay lại toàn bộ sự việc.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/4/2024 thì vụ “Cố ý làm hư hỏng tài sản” trên xảy ra tại đường tỉnh lộ 5 thuộc xã C, thành phố B và buôn K xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B xác định giá trị các bộ phận hư hỏng của xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-240.34 là 6.983.333 đồng. Trong đó: Kính chắn gió 4.850.000 đồng; Đ xi nhan trước bên phải 1.133.333 đồng; sửa chữa vết móp cabin bên trái 1.000.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 176/KLGĐ ngày 12/8/2024 của Trung tâm P1 kết luận về y học: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc (ngày 28/3/2024) và hiện tại (tại thời điểm giám định), Lê Thanh P bị bệnh rối loạn nhân cách thực tổn/Động kinh (F07.0/G40.6-ICD10); kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc (ngày 28/3/2024) và hiện tại (tại thời điểm giám định), Lê Thanh P hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại bản kết luận giám định số 841/KL-KTHS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ thể hiện: 01 (một) tập tin video có tên “5296407351412”, dung lượng 4,65 MB (4.882.361 bytes), phần mở rộng “.mp4”, mã MD5: 1F85058831A830984DCE18E9C8F82DE2: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 47C-240.34 (màu trắng, có mui thùng phủ bạt nhựa màu xanh đen).
- 01 USB bằng kim loại màu bạc, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 32Gb, bên trong lưu trữ 01 file dữ liệu, dung lượng 4,65 MB, thời lượng video dài 00:00:42 (không giờ, không phút, bốn mươi hai giây) đã được niêm phong do anh Y Sông N giao nộp.
Đối với các cục đá mà Lê Thanh P khai nhận sử dụng để ném vào xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-240.34 gây hư hỏng vào ngày 28/3/2024, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, đã quyết định:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm q, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/10/2024, bị cáo Lê Thanh P và người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Lê Thanh K có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Thanh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã được tóm tắt nêu trên, cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo Lê Thanh P và người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Lê Thanh K giữ nguyên nội dung kháng cáo,
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P và người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Lê Thanh K. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn,tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo trình bày: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo là người hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo được ở ngoài chữa bệnh.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sỡ hữu tài sản của người khác nên ngày 28/3/2024, tại địa phận xã C, thành phố B và buôn K, xã E, huyện B, Lê Thanh P đã có hành vi dùng đá ném vào xe ô tô nhãn hiệu HINO, biển kiểm soát 47C-240.34 của ông Nguyễn Văn Q do tài xế ông Y Sông N điều khiển gây hư hỏng và thiệt hại. Theo Kết luận giám định tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B xác định tại sản bị hư hỏng là 6.983.333 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thanh P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mức hình phạt 10 (mười) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Lê Thanh P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo thành khẩn khai báo; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm q, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm để học tập cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội mới. Quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo là ông Lê Thanh K mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt là phù hợp.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo không được chấp nhận nên nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P và người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Lê Thanh K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 26 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm q, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[3] Về án phí: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Thanh P và người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Lê Thanh K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao; - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Buôn Đôn; - VKSND huyện Buôn Đôn; - Công an huyện Buôn Đôn; - Chi cục THADS huyện Buôn Đôn; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đinh Thị Tuyết |