- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giải quyết ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 242/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kim Duyên.
2. Ông Nguyễn Văn Đảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Ngọc H, sinh năm 1995 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp K, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Anh Võ Thế V, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu phố B, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Mai Thị Ngọc H trình bày: Chị và anh V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã G cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 20/3/2018. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do khác biệt quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Chị đã cố gắng dùng nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Anh chị đã ly thân với nhau từ tháng 11/2021 đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Thế V.
- Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Võ Nguyên K, sinh ngày 28/10/2021. Trước nay con chung do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chị hiện tại có công việc thu nhập ổn đảm bảo nuôi con. Do đó khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Võ Thế V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V không đến dự phiên tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị H xin ly hôn với anh. Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị H; Về hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh V; Về con chung: Giao cháu K cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí chị H chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Mai Thị Ngọc H có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Võ Thế V có địa chỉ: khu phố B, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Chị Mai Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Võ Thế V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh V.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Ngọc H và anh Võ Thế V kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã G cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 31/5/2016 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị H yêu cầu ly hôn cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị H trình bày, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa anh chị là do khác biệt quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh V để hòa giải tạo điều kiện để anh chị hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc dù, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh V không đến để trình bày ý kiến về việc chị H xin ly hôn, chứng tỏ anh V cũng không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị H. Mặc khác, theo chị H trình bày, anh chị đã ly thân với nhau từ tháng 11/2021 đến nay, thời gian ly thân đã lâu nhưng anh chị cũng không hàn gắn được tình cảm. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, một bên đã không còn tình cảm mà kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai anh chị. Mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Nguyên K, sinh ngày 28/10/2021. Ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy chị H có công việc ổn định đủ điều kiện nuôi con và con chung hiện tại đang sống chung với chị H, do chị chăm sóc. Mặc khác, con chung hiện nay dưới 36 tháng tuổi và khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung phía anh V cũng không có ý kiến gì. Để đảm bảo cuộc sống của cháu không bị xáo trộn, ảnh hưởng đến môi trường sống của cháu nên căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được trực tiếp nuôi cháu Võ Nguyên K. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị Mai Thị Ngọc H là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Ngọc H.
1. Về hôn nhân: Chị Mai Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Thế V.
2. Về con chung: Chị Mai Thị Ngọc H được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Nguyên K, sinh ngày 28/10/2021. Chị Mai Thị Ngọc H không yêu cầu anh Võ Thế V cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Mai Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0027426 ngày 09/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công. Như vậy, chị Mai Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị Ngọc H và anh Võ Thế V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TXGC; - Chi cục THADS TXGC; - UBND Phường 5, TXGC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Thu Thúy |