vanban.org

Bản án 242/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trà Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trà Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/7/2022. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trà Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trà Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2022/HS-ST
Ngày: 30-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông và bà Nguyễn Thị Thúy Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 253/2022/TLST-HS ngày 24/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2022/QĐXXST-HS ngày 19/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trà Thanh T, sinh năm: 1972 tại TP. QN, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: T 25, kp 5, phường ĐĐ, TP. QN, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trà Văn T (chết) và bà: Phan Thị C (chết); Vợ, con: Chưa có;

Tiền án:

- Ngày 04/12/1998, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự.

- Ngày 17/3/2016, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không

* Nhân thân: Ngày 15/6/1994, bị Toà án nhân dân Quận 10, TP. Hồ Chí Minh xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong; Ngày 14/11/1994, bị Toà án nhân dân Quận 10, TP. Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong; Ngày 06/4/2006, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 10/12/2007; Ngày 29/4/2009, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 23/9/2009, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 30/8/2012.

Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã, tạm giữ, giam từ ngày 30/7/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1976 “vắng mặt”

Trú tại: 619 NTH, TP. QN, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Cao Thị Phi H, sinh năm: 1976 “vắng mặt”

Trú tại: 50 NTT, phường NB, TP. QN, tỉnh Bình Định.

2. Anh Đỗ Văn T, sinh năm: 1964 “vắng mặt”

Trú tại: 31 đường 1/5, t 25, kv 5, phường ĐĐ, TP. QN, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01/6/2018, Trà Thanh T điều khiển xe mô tô biển số: 77L1-473.17 đến quán “Hợp tác xã” tại số 619 NTH, phường NVC, TP. QN, tỉnh Bình Định ngồi uống cà phê. T thấy ở trước Garage xe ô tô “Sài Gòn” của anh Nguyễn Văn H (bên cạnh quán cà phê) có để 01 chậu cây bông giấy Mỹ và 01 chậu cây sam, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. T tính tiền cà phê rồi đi đến chỗ 02 chậu cây trên, lén lút khiêng chậu cây sam để trên baga trước xe còn chậu cây bông giấy để ở sau yên xe mô tô rồi điều khiển bỏ đi. Sau đó, T đem chậu cây bông giấy đến bán cho chị Cao Thị Phi H được 600.000 đồng, đem chậu cây sam bán cho anh Đỗ Văn T được 300.000 đồng. Số tiền có được, T tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 23/7/2018, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận: 01 chậu cây Bông giấy Mỹ, dáng trực, thân xoắn, cao 70cm, ngang 60cm, chậu hình vuông có kích thước 50x50cm cao 20cm, chưa thành phẩm, trị giá: 2.500.000 đồng; 01 chậu cây sam, dáng đổ, cao 30cm, ngang 58cm, chậu cây hình lục giác cao 32cm, mặt chậu rộng 30cm, chưa thành phẩm, trị giá: 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 3.500.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn tạm giữ 01 chậu cây Bông giấy Mỹ, 01 chậu cây sam và đã trả lại cho Nguyễn Văn H. Về dân sự: Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản của mình bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKSQN ngày 22/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Trà Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trà Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trà Thanh T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Truy thu của bị cáo 900.000 đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Trà Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trà Thanh T là người có đầy đủ sức khỏe, có trình độ học vấn, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo đã bị Tòa án đưa ra xét xử nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng rèn luyện trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà với tính tham lam, có ý thức xem thường pháp luật nên vào khoảng 12 giờ ngày 01/6/2018, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 chậu cây bông giấy Mỹ có trị giá: 2.500.000 đồng và 01 chậu cây sam có trị giá: 1.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn H để ở trước Garage xe ô tô “Sài Gòn” tại số 619 NTH, phường NVC, TP. QN. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.500.000 đồng. Bị cáo phạm tội trong trường hợp đã “Tái phạm nguy hiểm” và chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Trà Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn trong quá trình điều tra nên phải xử phạt bị cáo có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Bị cáo có nhân thân xấu.

4.2. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn; cha, mẹ của bị cáo là những người có công với cách mạng và được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án có lý có tình để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Đỗ Văn T mua 01 chậu cây Sam giá 300.000 đồng, chị Cao Thị Phi H mua 01 chậu cây hoa giấy giá 600.000 đồng. Anh T, chị H không yêu cầu bị cáo phải hoàn lại tiền đã mua cây cảnh từ bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về truy thu sung vào ngân sách Nhà nước: Bị cáo Trà Thanh T bán cho anh Đỗ Văn T cây sam được 300.000 đồng, bán cho chị Cao Thị Phi H cây hoa giấy được 600.000 đồng, tiêu xài cá nhân, lẽ ra phải buộc bị cáo có trách nhiệm hoàn lại khoản tiền này cho anh T, chị H, tuy nhiên anh T, chị H không yêu cầu bị cáo phải hoàn lại khoản tiền đã mua cây cảnh từ bị cáo, đây là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không truy thu của bị cáo số tiền 900.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về các vấn đề khác: Anh Đỗ Văn T, chị Cao Thị Phi H có hành vi mua cây cảnh từ bị cáo nhưng anh T, chị H không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự,

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trà Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trà Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/7/2022.

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ