- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị T - Bạch Văn H về việc ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 242/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25/11/2022. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nhân Phái và ông Trần Minh Khôi.
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Văn Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 198/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03/11/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn Xuân Sơn, xã L, huyện P, tỉnh T. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Bạch Văn H, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn Xuân Sơn, xã L, huyện P, tỉnh T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 04 tháng 10 năm 2022 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày như sau:
Chị Phạm Thị T và và anh Bạch Văn H có đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2013, tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Q. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau. Từ tháng 05/2015 cho đến nay nguyên đơn và anh H sống ly thân, không ai quan T đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không được. Nay nguyên đơn không còn tình cảm vợ chồng với anh H do mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bạch Văn H.
Về việc nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là Bạch Anh K, sinh ngày 12/5/2013. Chị Phạm Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu K cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Bạch Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ sau:
Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao giấy khai sinh con chung; 02 bản sao chứng minh nhân dân vợ chồng, bản sao sổ hộ khẩu gia đình.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H về việc chị Phạm Thị T xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh H không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H đều vắng mặt.
Tại biên bản xác minh ngày 03/11/2022, Ủy ban nhân dân xã Lộc Sơn và gia đình anh cho biết anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Xuân Sơn, xã L, huyện P, tỉnh T. Ủy ban nhân dân xã Lộc Sơn và gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, đã giao lại cho anh H nhưng anh H bận việc làm ăn không đến Tòa án làm việc.
Ngày 18/11/2022, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 25/11/2022, đồng thời tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa ngày 18/11/2022, ngày 25/11/2022, làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí đề nghị xử buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bởi vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Bạch Văn H có đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2013, tại Uỷ ban nhân dân xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình hôn nhân giữa nguyên đơn và anh H, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên giữa hai người không tôn trọng nhau, tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vả, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Từ tháng 05 năm 2015, nguyên đơn và anh H đã sống ly thân cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng không hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T.
Về việc nuôi con: Quá trình làm việc tại Tòa án cháu K cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ như nội dung của chị T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu K cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho nguyên đơn rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị T trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị T
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn anh Bạch Văn H.
2. Về việc nuôi con: Giao cháu Bạch Anh K, sinh ngày 12/5/2013 cho chị Phạm Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Bạch Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị Đào đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0004128, ngày 04/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc. Chị T đã nộp đủ.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - VKSND huyện Phú Lộc; - Chi cục THADS huyện Phú Lộc; - Đương sự; - UBND xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Sang |