vanban.org

Bản án 242/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D và Nguyễn Thị Tú P phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị H 10 (mƣời) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mƣơi) tháng, tính từ ngày tuyên án. Xử phạt bị cáo Võ Thị D 10 (mƣời) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mƣơi) tháng, tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D và Nguyễn Thị Tú P phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhƣng; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 242/2019/HS-ST
Ngày: 19-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 239/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 259/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Đặng Thị H, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: Khu 1, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng P, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1965; có 02 ngƣời em, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1996; chồng Trần Quốc K (đã chết); có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 48/2015/HSST ngày 05/5/2015, Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh B xử phạt 06 tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong án phí; bị bắt tạm giữ ngày 24/3/2019, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 02/4/2019, bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Võ Thị D, sinh năm 1978 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: Khu 1, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn H, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942; có 03 ngƣời em, lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1986; có chồng Võ Hà S, sinh năm 1977 và 03 ngƣời con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 32/HSST ngày 24/10/2002, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đ xử phạt 06 tháng tù cho hƣởng án treo, thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong án phí; Bản án số 40/2015/HSST ngày 14/4/2015, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đ xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong án phí; bị bắt tạm giữ ngày 24/3/2019, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 27/4/2019, bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Nguyễn Thị Tú P, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Khu 1, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Hồng S, đã chết và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953; có 05 anh chị em ruột; có chồng Trần Minh L, sinh năm 1989 và 01 ngƣời con, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 24/3/2019, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 02/4/2019, bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1982; thƣờng trú: Số 42A/19 khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1965; thƣờng trú: Khu 1, khu phố H, thị trấn Đ, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

+ Ông Lý Hoang T, sinh năm 1985; thƣờng trú: Ấp H, thị trấn Đ, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Vũ Đình P, sinh năm 1995; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1997; vắng mặt.

+ Anh Phạm Nguyễn Quang T, sinh năm 1992; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 23/3/2019, Đặng Thị H ở phòng trọ của Nguyễn Thị Tú P tại phƣờng B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rủ Võ Thị D, Nguyễn Thị Tú P đi đến chùa B. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 54X8-8877, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 60B4-552.46 chở H đến chùa B thuộc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. P phát hiện chị Bùi Thị T để 01 chiếc bóp da màu đen trong cốp dƣới yên xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61Z4-7676 rồi vào chùa nên nói cho H và D biết. H, D, P đi đến xe mô tô biển số 61Z4-7676. P đứng ở phía đuôi xe mô tô biển số 61Z4-7676 để che ngƣời xung quanh đồng thời cảnh giới cho D và H. D dùng hai tay kéo yên xe lên để H đƣa tay vào trong cốp xe lấy chiếc bóp da của chị T. H, D và P rời khỏi khu vực chùa B. D mở chiếc bóp da vừa chiếm đoạt đƣợc kiểm tra thì thấy bên trong có tiền mặt 3.900.000 đồng và các giấy tờ nhƣ giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký xe, giấy phép lái xe, thẻ ATM, thẻ bảo hiểm. H, D và P lấy tiền chia nhau mỗi ngƣời đƣợc 1.300.000 đồng rồi vứt bóp cùng các giấy tờ ỏ bên đƣờng không xác định rõ địa điểm. Đến ngày 24/3/2019, H, D, P đến trụ sở Công an phƣờng Tân Bình đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 54X8-8877; xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 60B4-552.46; tiền mặt 3.900.000 đồng; 01 túi nylon màu hồng.

Đối với xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 54X8-8877 là tài sản của anh Lý Hoang T, anh T không biết việc D sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại tài sản trên cho anh T.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 60B4-552.46 là tài sản của bà Nguyễn Thị Thu H, bà H không biết việc H sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại tài sản trên cho bà H.

Về trách nhiệm dân sự: Số tiền chiếm đoạt 3.900.000 đồng các bị cáo đã trả lại cho bị hại Bùi Thị T. Đối với 01 cái bóp đã cũ, chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe, thẻ ATM, thẻ bảo hiểm không thu hồi đƣợc, chị T không yêu cầu bồi thƣờng nên không xem xét.

Tại cáo trạng số: 260/CT - VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D, Nguyễn Thị Tú P về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị H và Võ Thị D mỗi bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo 18 tháng đến 24 tháng; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Tú P mức án từ 07 tháng đến 10 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon màu hồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D, Nguyễn Thị Tú P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; các bị cáo không tranh luận, đối đáp gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 23/3/2019, tại chùa B thuộc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D, Nguyễn Thị Tú P có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Bùi Thị T 01 chiếc bóp da màu đen để dƣới yên xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 61Z4-7676, bên trong có 3.900.000 đồng tiền mặt. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 260/CT - VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D, Nguyễn Thị Tú P là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Vai trò của các bị cáo: Bị cáo Hiếu là ngƣời dụ dỗ bị cáo D và P và là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo D là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P là ngƣời giúp sức cho bị cáo H và D.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại; các bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Phƣơng có thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hiếu và bị cáo Dung thêm tình tiết trình độ học vấn thấp.

Về nhân thân: Bị cáo Đặng Thị H và Võ Thị D đã bị Tòa án xét xử nhƣng đã đƣợc xóa án tích. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo Hiếu là lao động chính trong gia đình, chồng đã chết, hiện đang nuôi con nhỏ, có 01 con bị bệnh tim bẩm sinh. Bị cáo D là lao động chính, hiện đang nuôi mẹ già, chồng bị bệnh, đang nuôi 02 con nhỏ và nuôi 01 cháu trẻ mồ côi. Bị cáo P có nhân thân tốt. Trong thời gian tại ngoại, các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phƣơng.

Xét thấy, các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; bị cáo P có nhân thân tốt, chƣa tiền án tiền sự; bị cáo H và D đã bị kết án nhƣng đã đƣợc xóa án tích; các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, có nơi cƣ trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo đối với các bị cáo, phù hợp với quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hƣởng xấu đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vì vậy, hủy bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 68/2019/HSST-LCĐKNCT và số 69/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 19/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An và Quyết định về việc bảo lĩnh số 14/2019/HSST-QĐBL ngày 19/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt là 3.900.000 đồng các bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại Bùi Thị T. Đối với 01 cái bóp đã cũ, các giấy tờ nhƣ giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe, thẻ ATM, thẻ bảo hiểm bị chiếm đoạt không thu hồi đƣợc chị T không yêu cầu bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 60B4-552.46 là tài sản của bà Nguyễn Thị Thu H, bà H không biết việc H sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại tài sản trên cho bà H là đúng quy định của pháp luật.

Xét xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 54X8-8877 là tài sản của anh Lý Hoang T, anh T không biết việc Dung sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại tài sản trên cho anh T là đúng quy định của pháp luật.

Xét 01 túi nylon màu hồng, không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D và Nguyễn Thị Tú P phạm Tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị H 10 (mƣời) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mƣơi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Võ Thị D 10 (mƣời) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mƣơi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tú P 8 (tám) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mƣời sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo H, D, P cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D và Nguyễn Thị Tú P trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Hủy bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 68/2019/HSST-LCĐKNCT, số 69/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 19/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã D và Quyết định về việc bảo lĩnh số 14/2019/HSST-QĐBL ngày 19/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon màu hồng.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đặng Thị H, Võ Thị D và Nguyễn Thị Tú P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đế vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ