- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà E xin ly hôn ông G"
- Tòa quyết gì? Bà Võ Thị Thúy E và ông Trần Hoàng G được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN G Bản án số: 242 / 2018 / HNGĐ - ST Ngày: 19 / 7 / 2018 “V/v tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Thanh ;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử công khai vụ án thụ lý số: 154/2018/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 về việc “ Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thúy E, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ 9, ấp Cống Cả, xã Vĩnh Điều, huyện G Thành, tỉnh Kiên G. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt )
2. Bị đơn:
Ông Trần Hoàng G, sinh năm 1992
Địa chỉ: Tổ 14, ấp Phú Thành, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An G. (Vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà E trình bày: Bà và ông G tiến đến hôn nhân thông qua mai mối năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An G. Sau nhiều năm chung sống, bà nhận thấy giữa hai người có nhiều khác biệt về cách sống nên phát sinh mâu thuẫn và cả hai sống ly thân từ tháng 01/2016 cho đến nay. Nay xin ly hôn.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Trần Hoàng G không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà E.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà E có cung cấp 01 bản photo Đơn xin ly hôn viết tay, có hai bên cha mẹ chứng kiến ghi ngày 09/01/2016 tại Bình Dương.
Để xác định nguyên nhân, tình trạng mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của bà E, ông G, Tòa án đã thực hiện thủ tục xác minh đối với ông Trần Văn H, cha ruột ông G và được cho biết nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống kéo dài. Hiện cả hai không còn sống chung khoảng 01 năm nay. Việc bà E có đơn gửi Tòa án xin giải quyết ly hôn ông G có hay biết nhưng do đi làm ăn xa, không tiện về tham gia phiên tòa.
Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai chứng cứ cũng như hòa giải để động viên ông bà chung sống lại nhưng do ông G vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, bà E có đơn xin vắng mặt, ông G vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo pháp luật, không có vi phạm; tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( ghi tắt là HĐXX ) không thuộc trường hợp phải thay đổi, Thẩm phán đã công bố các lời khai của đương sự vắng mặt; bà E có đơn xin xét xử vắng mặt riêng ông G vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã triệu tập hợp lệ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà E nên xE như từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.
Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà E, ông G có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nên bà E có đơn xin ly hôn và căn cứ vào các chứng cứ do Tòa án thu thập được về tình trạng hôn nhân của ông bà thì mâu thuẫn là trầm trọng, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà E. Về con chung theo bà E thì không có, việc phân chia tài sản chung, nợ chung do bà E không yêu cầu nên không xE xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà E có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Phú giải quyết về việc hôn nhân với ông G, ông G có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà E có đơn xin xét xử vắng mặt, ông G vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Năm 2015, bà E và ông G tổ chức đám cưới, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân của ông bà phát sinh giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện trong thời gian chung sống giữa ông, bà thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hiện cả hai đã không còn chung sống với nhau. Ông G biết việc bà E xin ly hôn nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà E, không tham gia các phiên hòa giải nên xE như ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng của ông, bà là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần cho ông, bà ly hôn.
Về nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng:
Bà E khai ông bà chưa có con chung. Ông G không có ý kiến về việc này nên trong vụ án này Tòa án xác định ông, bà không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà E không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xE xét. Trường hợp sau này ông, bà có yêu cầu chia tài sản chung thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Bà Võ Thị Thúy E và ông Trần Hoàng G được ly hôn.
Về con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không xE xét giải quyết.
Án phí: Bà E phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, tuy nhiên được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002959 ngày 07/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| * Nơi gủi: - TAND tỉnh AG; - VKS H. An Phú; - THA H. An Phú; - UBND xã Phú Hữu - H. An Phú; - Các đương sự;. - Lưu HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Bảo |