- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang V Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƢƠNG --------------- Bản án số: 242/2017/HSST Ngày: 15/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trƣơng Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quyết - PGĐ CT Cổ phần ô tô HC.
2. Bà Hà Thị Thúy - Cán bộ nghỉ hƣu
- Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát V.
Ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại Nhà Văn hóa khu 3 phƣờng QT, thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 244/2017/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang V, sinh năm 1987.
Đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Số 129 CĐ khu 7, phƣờng VH, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng.
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Trình độ văn hóa: 12/12
Bố đẻ: Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1948; Mẹ đẻ: Bà Ngô Thị M, sinh năm 1955. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Ông Đ đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huy chƣơng kháng chiến hạng nhất.
Tiền án, tiền sự: Chƣa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2017, chuyển tạm giam từ ngày 15/9/2017 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lê Quang V bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Khoảng 22h30' ngày 13/9/2017, tại phòng trọ số 5 số nhà 3/78 VD khu TT, phƣờng TM, thành phố H, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phối hợp với Công an phƣờng TM, thành phố H kiểm tra phát hiện Lê Quang V đang cất giấu trái phép trong túi quần bên trái đang mặc 01 gói nilon màu trắng và trong ví da màu nâu tại giƣờng ngủ 03 gói nilon màu trắng kích thƣớc (1,5x1,5)cm/gói, bên trong đều chứa chất tinh thể rắn màu trắng. V khai nhận là ma túy tổng hợp, cất giấu để sử dụng. Quá trình bắt giữ có chị Nguyễn Thị T ở thôn TL, xã TB, huyện BV, thành phố HN và anh Nguyễn Văn G và anh Nguyễn Văn H ở số 6/78 và số 90 VD, khu TT, phƣờng TM, thành phố H chứng kiến.
Quá trình điều tra Lê Quang V khai nhận: Do nghiện chất ma túy (loại ma túy tổng hợp), khoảng 20h30' ngày 13/9/2017, V đi ra khu vực CĐ Niên, phƣờng VH, thành phố H mua đƣợc 04 gói ma túy tổng hợp của một ngƣời ngƣời đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 1.200.000đ. Khi về phòng trọ số 5 số nhà 3/78 VD khu TT, phƣờng TM, thành phố H, V cất 03 gói vào trong ví da màu nâu rồi để trên giƣờng; gói còn lại V giấu trong túi quần đang mặc. Đến khoảng 22h30’ cùng ngày, khi V đang ngồi ở phòng trọ cùng bạn là chị Nguyễn Thị T ở xã TB, huyện BV, thành phố HN thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phối hợp với Công an phƣờng TM, thành phố H kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ 04 gói nilon màu trắng, kích thƣớc (1,5x1,5)cm/gói bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, 01 ví da màu nâu trên có chữ Hermes và 01 bộ sử dụng ma túy gồm 01 vỏ chai nhựa có in chữ Coca, 01 ống hút bằng nhựa, 01 cóng thủy tinh.
Tại kết luận giám định số 368/KLGĐ ngày 17/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu trắng ghi thu của Lê Quang V gửi đến giám định có tổng trọng lƣợng là 3,034gam, là loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 67, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Về vật chứng: Đối với 2,909gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 368/KLGĐ-PC54 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng; 01 ví da màu nâu có in chữ Hermes, 01 cóng thủy tinh, 01 vỏ chai nhựa có in chữ Coca, 01 ống hút bằng nhựa hiện đang đƣợc quản lý tại kho vật chứng của Công an TP. H chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 241/VKS-HS ngày 20/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Lê Quang V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình nhƣ tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Quang V từ 15 (Mƣời lăm) đến 18 (Mƣời tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/9/2017; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2,909gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong phong bì số 368/KLGĐ-PC54 Công an tỉnh Hải Dƣơng; 01 ví da màu nâu (loại ví gấp nam) bên ngoài có in chữ Hermes; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) cóng thủy tinh, 01 vỏ chai nhựa có in chữ Coca, 01 ống hút bằng nhựa; Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát V, ý kiến của bị cáo.
XÉT THẤY:
Lời khai của bị cáo Lê Quang V tại phiên toà cơ bản phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22h30' ngày 13/9/2017, tại phòng trọ số 5 số nhà 3/78 VD, phƣờng TM, thành phố H, Lê Quang V đang cất giấu trái phép trong ngƣời và chỗ ở 3,034gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc ma túy là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con ngƣời mà nó còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc bị cáo cất giấu trái phép 3,034gam Methamphetamine trong ngƣời để sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật nhƣng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 194 BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Lê Quang Đ là ngƣời có công với cách mạng đƣợc tặng huy chƣơng kháng chiến chống mỹ cứu nƣớc hạng nhất nên cho bị cáo hƣởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS. Theo quy định tại khoản 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, hƣớng dẫn về việc áp dụng các qui định có lợi cho ngƣời phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. (Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 2 năm - 7 năm tù, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm - 05 năm tù). HĐXX sẽ xem xét áp dụng phần hình phạt có lợi theo qui định của BLHS năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế bản thân không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 2,909gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là chất cấm lƣu hành; 01 ví da màu nâu (loại ví gấp nam) bên ngoài có in chữ Hermes; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) cóng thủy tinh, 01 vỏ chai nhựa có in chữ Coca, 01 ống hút bằng nhựa là những vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tƣợng đã bán trái phép chất ma túy cho Lê Quang V ngày 13/9/2017 tại khu vực gầm CĐ Niên, phƣờng VH, thành phố H (V không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu). Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H sẽ tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ nhân thân lai lịch hành vi vi phạm sẽ đề xuất hình thức xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị T không biết việc V cất giấu ma túy nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H không đề cập hình thức xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Lê Quang V 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/9/2017.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 368/KLGĐ-PC54 Công an tỉnh Hải Dƣơng; 01 (một) ví da màu nâu (loại ví gấp nam) bên ngoài có in chữ Hermes; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) cóng thủy tinh, một vỏ chai nhựa có in chữ Coca, một ống nhựa hút. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H ngày 21/11/2017)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Quang V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Lê Quang V đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/12/2017)./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Tp H; - Công an Tp H; - Trại tạm giam thuộc CA tỉnh HD; - Chi cục THADS TPH; - Sở tư pháp Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trƣơng Thị Tố Uyên |