- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bác kháng cáo của bị cáo Trịnh Thế N; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2025/HS-ST ngày 29/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 241/2025/HS-PT Ngày: 16-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Tồn.
Các Thẩm phán: ông Lê Văn Thường và ông Trần Quốc Cường.
Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Ba, Thẩm tra viên Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng diễn ra phiên toà trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Trịnh Thế N về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo Trịnh Thế N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
* Bị cáo có kháng cáo:
Trịnh Thế N, Sinh ngày: 20 tháng 7 năm 1977 tại: tỉnh Quảng Bình (Nay là tỉnh Quảng Trị); Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã N, tỉnh Quảng Trị (Thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình); Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã N, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Ngọc L (đã chết), con bà Mai Thị M (đã chết); Vợ: Trần Thị L1, Sinh năm 1979. Hiện trú tại: xã N, tỉnh Quảng Trị; Con có 03 đứa: Lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2023.
Nhân thân: Ngày 22/3/1996 bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (Nay là Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị) xử phạt 03 năm tù giam về tội “Giết người” theo Bản án số 06/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/1998. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Q(Công an tỉnh Q cũ) từ ngày 12/01/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người Bị hại: ông Trịnh Bát N1, sinh năm 1987 (đã chết).
Đại diện cho gia đình bị hại: anh Trịnh Lâm T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Thế N theo yêu cầu của Toà án: Ông Trương Văn B – Luật sư, thuộc Văn phòng L3, đoàn Luật sư tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 12/01/2025, sau khi đi nhậu về, Trịnh Bát N1 thấy Trịnh Thế N đứng bên kia nhà nên đã dùng lời lẽ thô tục chửi bới N rồi vào nhà nằm ngủ, lúc này N cũng mới uống rượu xong, nghe Nhất chửi bới nên bức xúc, nảy ra ý định sang giết N cho hả giận. N vào nhà bếp lấy 01 con dao dài 27,3cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại một cạnh sắc, mũi dao nhọn rồi đi bộ sang nhà N1 theo lối cổng sau. Khi đi vào lối cữa bếp qua nhà chính, đến phòng ngủ, thấy N1 đang nằm ngủ trên giường trong tư thế nằm ngữa, đắp chăn ngang phần bụng, Nam tiến đến đứng sát giường cầm dao nhọn bằng tay phải giơ lên ngang mặt rồi đâm một nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng ngực bên phải của N1 rồi rút dao ra và bỏ đi theo lối cũ đến mương nước cạnh cổng nhà mình rửa tay và dao dính máu, rồi vứt con dao xuống mương nước. Lúc này chị Trần Thị L1 là vợ của N phát hiện sự việc nên đã điện thoại trình báo cơ quan Công an. Hậu quả: Trịnh Bát N1 chết tại hiện trường.
* Kết quả giám định số 103/KL-PY ngày 08/4/2025 của phòng K Công an tỉnh Q (Nay là Công an tỉnh Q kết luận: Nguyên nhân chết của Trịnh Bát N1: Mất máu cấp do vết thương vùng ngực bên phải; Thời gian chết: Thời gian Trịnh Bát N1 chết tới thời điểm bắt đầu tiến hành khám nghiệm tử thi là khoảng từ 02 đến 04 giờ đồng hồ; Trịnh Bát N1 chết sau bữa ăn cuối cùng từ 1,5 đến 03 giờ đồng hồ; Cơ chế hình thành dấu vết trên tử thi: Các dấu vết rách da, cơ vùng ngực bên phải, gãy cung trước các xương sườn số 3, 4 bên phải; rách phổi phải, đứt động mạch phổi phải của tử thi Trịnh Bát N1 hình thành do vật sắc, nhọn, tác động trực tiếp vào vùng ngực bên phải của tử thi theo hướng từ trước ra sau gây nên.
* Kết luận giám định số 138/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Trên con dao gửi đi giám định có AND của Trịnh Bát N1, không có AND của Trịnh Thế N hay người nào khác; Mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 06 ở hiện trường là máu của Trịnh Bát N1, không phải là máu của Trịnh Thế N hay người nào khác;
* Kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 20/02/2025 Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận đối với con dao Trịnh Thế N sử dụng: Mẫu vật có đặc điểm nêu trên gửi giám định là dao sắc, nhọn, thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có sát thương cao” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.
* Ngày 12/01/2025 Bệnh viện Đ nồng độ cồn trong máu của Trịnh Thế N là 44,58 mmol/l;
* Tại kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 23/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trong mẫu phủ tạng (Thực quản, khí quản, tim, gan, phổi, dạ dày và chất chứa trong dạ dày) ghi thu của tử thi Trịnh Bát N1 gửi giám định không tìm thấy các chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của các chất ma túy trong cơ thể, chất độc bay hơi (CN-, H3P, Hg+, 2+, As2+,3+,5+ kim loại nặng(Mn2+, Pb2+), thuốc bảo vệ thực vật (trừ sâu, diệt cỏ), thuốc diệt chuột và các ancaloit độc; Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Trịnh Bát N1 gửi giám định tìm thấy E (Cồn), nồng độ Ethanol là 226mg/100mL; không tìm thấy M1, các chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của các chất ma túy trong cơ thể.
Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ gồm: 01(một) con dao (dạng dao bầu) dài 27,3cm; phần lưỡi bằng kim loại sáng màu dài 15,4cm, chỗ rộng nhất 4,3cm, mũi nhọn và một cạnh sắc, một bên bề mặt lưỡi dao có các chữ: “Dao Thép Không Gỉ, Mạnh Đồng L2, Thép N2”, phần cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 11,9cm, đã qua sử dụng. Đã chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (Nay là Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).
Về dân sự: Đại diện gia đình Trịnh Bát N1 không yêu cầu Trịnh Thế N phải bồi thường trách nhiệm dân sự và các chi phí khác có liên quan; cam kết không khiếu nại, khiếu kiện về dân sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thế N phạm tội: “Giết người”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Thế N tù Chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/01/2025).
Tiếp tục duy trì Quyết định tạm giam số 89/2025/HSST-QĐTG ngày 10/7/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 01/8/2025 bị cáo Trịnh Thế N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trịnh Thế N giữ nguyên đơn kháng cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trịnh Thế N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Kháng cáo của bị cáo Trịnh Thế N trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các chứng cứ khác. Có đủ căn cứ khẳng định; do bức xúc vì bị Trịnh Bát N1 chửi bới, bị cáo đã nảy sinh ý định tước đoạt tính mạng bị hại, chủ động lấy dao sắc nhọn, sang nhà bị hại và đâm trực tiếp vào ngực phải bị hại khi bị hại đang nằm ngủ, gây mất máu cấp dẫn đến tử vong. Đây là hành vi giết người với lỗi cố ý trực tiếp, thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng con người được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo từng bị xét xử về tội “Giết người”, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học răn đe, tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, cấp sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo tù Chung thân là phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và hậu quả đã gây ra.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy: sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết này không đủ căn cứ để giảm hình phạt, bởi mức án tù Chung thân mà cấp sơ thẩm áp dụng đã là mức hình phạt cần thiết, tương xứng và không vượt quá mức nghiêm khắc cần thiết so với tính chất vụ án. Do đó kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Bác kháng cáo của bị cáo Trịnh Thế N; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2025/HS-ST ngày 29/7/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu pháp luật. Bản án phúc thẩm có hiệu lực
| pháp luật kể từ ngày tuyên án.Nơi nhận: - TAND tối cao; - Viện công tố và KSXXPT tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Trị (02 bản); - CQCSĐT CA tỉnh Quảng Trị (02 bản); - Phòng CSTHAHS &HTTP CA tỉnh Quảng Trị; - THADS tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; người có QLNVLQ vụ án; - Lưu: HSVA, HCTP, KTNV, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tồn |