vanban.org

Bản án 241/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/11/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/11/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Trung N - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2025/HS-PT
Ngày: 27 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

Ông Nguyễn Lê Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng

xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 204/2025/TLPT-

HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N, do có

kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 12

tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc Trung N (Tên gọi khác: Sin), sinh

ngày 19/6/2004 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); Nơi cư trú: Thôn 7,

xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Hàm Thuận,

tỉnh Lâm Đồng); Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân

tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông

Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Thị Q; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự:

không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện

có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Nguyễn Chí T1 không có kháng cáo và

không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Bản án sơ thẩm:

Vào tối ngày 11/12/2023, Võ Trí L1 cùng nhậu với nhóm bạn gồm:

Huỳnh Hữu H2, Nguyễn Chí T1, Võ Anh K, Võ Thị Minh A1, Huỳnh Thị

Thanh T2 và Đinh Thị Tường V1 tại quán B3 thuộc xã TN, thành phố Ph1, tỉnh Bình Thuận đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì nghỉ. Lúc này, L1 đi ra đứng trước quán để chờ nhóm bạn về cùng thì ông Trương Văn H3 điều khiển xe ô tô bán tải màu đỏ cam, biển số 51D-168.68 chở theo 03 người bạn ngồi trong xe gồm ông Lê Ngọc Tùng D3, ông Nguyễn Tiến H4 và ông Lê Thanh N3 chạy ngang qua quán B3 suýt va chạm với xe mô tô của Võ Trí L1 nên L1 bực tức nói lớn tiếng “Mấy ông chạy xe kiểu gì, chạy muốn tông vào người ta hay sao”, do thấy H3 vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô chạy đi, không xin lỗi nên L1 liền nổ máy xe mô tô chở H2 đuổi theo xe ô tô của H3. K điều khiển xe mô tô chở V1 ra tới trước quán, thấy L1 điều khiển xe chở H2 đuổi theo xe ô tô biển số 51D-168.68 nên K cũng điều khiển xe mô tô chạy theo L1 và H2. Cả nhóm chạy đến đoạn thuộc thôn TA, xã TN thì thấy xe ô tô biển số 51D-168.68 đang dừng lại trên đường nên L1, K dừng xe lại, đi đến nói chuyện với ông H3 và ông D3 thì giữa hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Trong lúc cãi nhau, L1 đã nhặt cây gỗ bên đường cùng với Huỳnh Hữu H2 dùng tay chân xông vào đánh ông H3 và ông D3, K và V1 thì đứng ở vị trí dừng xe không tham gia.

Khi L1 và H2 đang đánh ông H3 và ông D3 thì có ông H9 (chưa rõ nhân

thân) điều khiển xe ô tô màu trắng (không rõ biển số) chở ông Thái Văn Việt Th3 đi đến thì L1 và H2 sợ bị đánh lại nên bỏ chạy bộ vào rừng cây sát bên đường trốn, K và V1 cũng bỏ xe lại chạy trốn. Thấy nhóm của L1 bỏ chạy, ông H4 lên xe ô tô của ông H4 đi về, ông Th3 ở lại lên xe ô tô của ông H3 ngồi.

Nguyễn Chí T1 khi đang điều khiển xe chở A1 và T1 trên đường đi về thì

thấy xe mô tô của Võ Trí L1 đang dựng sát xe ô tô biển số 51D-168.68 nH2 không thấy L1, T1 nghĩ L1 đang đánh nhau với người khác nên T1 chở A1 và Tuyền chạy về xã Hàm Đức. Lúc này, T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Ngọc Trung N, rủ N cùng đi hỗ trợ L1 đánh nhau thì N đồng ý. Lúc này, T1 mang theo một cây sắt, N mang theo một cây gỗ vuông rồi N điều khiển xe mô tô chở T1 quay lại nơi xe ô tô biển số 51D-168.68 đang dừng. T1 và N thấy ông H3 đang ngồi trong xe ô tô nên T1 đi đến cầm cây sắt đánh 01 cái vào đùi và 02 đến 03 cái vào người của ông H3, bị đánh nên ông H3 khóa cửa xe lại thì T1 cầm cây sắt đập nhiều lần vào kính chắn gió phía trước, kính chắn gió bên trái cửa trước và kính chắn gió bên trái cửa sau xe; N cầm cây gỗ đập nhiều lần vào hông thùng xe bên phải xe ô tô biển số 51D-168.68 gây hư hỏng.

Huỳnh Hữu H2 đang trốn trong rừng, nhìn thấy T1 và N đang đập phá xe

ô tô biển số 51D-168.68 nên chạy ra can ngăn. Sau đó, H2 cầm cây gỗ đến mở cửa phía sau bên trái của xe ô tô biển số 51D-168.68, H2 dùng cây gỗ đánh 01 cái vào đùi của ông Th3 trúng vào điện thoại di động hiệu Iphone 7 của ông Th3 đang bọc trong túi quần thì bị vỡ màn hình của điện thoại. Thấy nhóm của T1, N có hành vi đập phá xe, đánh người nên ông H3 điều khiển xe ô tô biển số 51D-168.68 bỏ chạy.

Ngày 17/12/2023, ông Trương Văn H3 có đơn yêu cầu không giám định

thương tích, không định giá tài sản bị hư hỏng và không khởi tố hình sự và ông Lê Ngọc Tùng D3 có đơn yêu cầu không khởi tố hình sự.

Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô tải (PICKUP ca bin kép) nhãn hiệu

FORD, số loại RANGER WILDTRAK, màu đỏ cam, biển số 51D-168.68 (tạm

giữ của ông Trương Văn H3) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7, màn

hình bị vỡ (tạm giữ từ ông Thái Văn Việt Th3).

Tại Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 23/01/2024 của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng thành phố Ph1 kết luận:

- Xe ô tô biển số 51D-168.68, nhãn hiệu FORD, số loại RANGER

WILDTRAK, giá trị bị thiệt hại 9.639.000 đồng;

- Điện thoại di động hiệu Iphone 7, trị giá 1.100.000 đồng.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 168 ngày

13/3/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận đối với

thương tích của ông Trương Văn H3 như sau:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương vùng đỉnh phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (3

x 0,4) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

- Vùng cánh tay trái có 02 vết thương đã được điều trị hiện để lại sẹo kích

thước:

+ Vết 1: (7 x 0,3) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

+ Vết 2: (1,3 x 0,5) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.

- Vết thương mặt trước đùi trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước:

(6,5 x 0,3) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy

định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám

định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông

Trương Văn H3 tại thời điểm giám định là: 7% (Bảy phần trăm), áp dụng

phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Các vết thương do vật tày có cạnh gây ra.

+ Vết thương vùng đỉnh phải có chiều hướng L1 tác động từ trên xuống

dưới; Các vết thương cánh tay trái, đùi trái có chiều hướng L1 tác động theo tư

thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

+ Hiện không xác định cố tật.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 186 ngày

13/3/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Bình Thuận đối với

thương tích của ông Lê Ngọc Tùng D3 như sau:

1. Các kết quả chính: Đa chấn thương ngực, bụng, cánh tay phải, lưng, mu

bàn chân phải hiện không để lại dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn

thương cơ thể.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy

định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, không đủ cơ sở xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Ngọc Tùng D3 tại thường điểm giám định.

- Kết luận khác:

+ Không đủ cơ sở xác định vật gây thương.

+ Không đủ cơ sở xác định chiều hướng L1 tác động gây thương.

+ Hiện không xác định cố tật.

Xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô tải (PICKUP ca bin kép) nhãn hiệu

FORD, biển số 51D-168.68 và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho ông Trương Văn H3 và ông Thái Văn Việt Th3.

Về phần dân sự:

- Nguyễn Chí T1, Nguyễn Ngọc Trung N, Võ Trí L1 đã bồi thường số tiền

thiệt hại do hư hỏng xe ô tô biển số 51D-168.68 và tiền điều trị thương tích của ông Trương Văn H3 với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Ông H3 nhận và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

- Chiếc điện thoại di động của ông Thái Văn Việt Th3 bị hư hỏng do

Huỳnh Hữu H2 gây ra, Võ Trí L1 đã bồi thường thay H2 số tiền 8.000.000 đồng cho ông Th3. Ông Th3 nhận và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

- Võ Trí L1 đã bồi thường cho ông Lê Ngọc Tùng D3 số tiền 15.000.000

đồng tiền điều trị thương tích. Ông D3 nhận, không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Quá trình điều tra xác định:

- Võ Trí L1 dùng cây gỗ và Huỳnh Hữu H2 dùng tay đánh ông Trương

Văn H3 bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7% và đánh ông Lê Ngọc Tùng D3 không đủ cơ sở xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, nH2 do ông H3 và ông D3 tự nguyện có đơn không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” đối với L1 và H2.

- Huỳnh Văn H2 có hành vi tự ý sử dụng gậy gỗ đánh 01 cái vào đùi của

ông Thái Văn Việt Th3 đang ngồi trong xe ô tô biển số 51D-168.68 làm vỡ màn hình điện thoại di động hiệu Iphone 7 của ông Th3 đang bọc trong túi quần, trị giá 1.100.000 đồng, không gây thương tích gì cho ông Th3. H2 không thỏa thuận và bàn bạc với Nguyễn Chí T1 và Nguyễn Ngọc Trung N về việc đập phá xe ô tô biển số 51D-168.68 hành vi của H2 không đồng phạm với T1 và N về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; do số tiền bị thiệt hại không đủ định lượng để cấu thành tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với H2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025

của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều

51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài

sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn

Chí T1, về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15/8/2025, bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N gửi đơn kháng cáo xin

được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị

cáo 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ

luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm

nhẹ; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có

hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật

Hình sự; điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng

hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N, sửa Bản án

hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân

dân khu vực 10 – Lâm Đồng, giữ N mức hình phạt tù, nH2 cho bị cáo được

hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo luật định.

- Bị cáo giữ N kháng cáo và xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp

nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo. Vì hoàn cảnh gia

đình bị cáo khó khăn, cha mẹ ly hôn, bị cáo đang ở với mẹ và em, nH2 mẹ thì bị

bệnh, còn em trai thì bị người khác gây thương tích, chưa lao động được, nên bị

cáo hiện là lao động chính trong gia đình; Ngoài ra, gia đình bị cáo có ông ngoại

ruột và bà ngoại thứ là người có công với cách mạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N thừa

nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm phù hợp với lời khai của bị cáo

tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ

khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút

ngày 11/12/2023, tại thôn TA, xã TN, thành phố Ph1, tỉnh Bình Thuận (nay là

phường M, tỉnh Lâm Đồng), xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhóm bạn của bị cáo

với nhóm của bị hại là ông Trương Văn H3, bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N đã

dùng gậy gỗ cùng với Nguyễn Chí T1 dùng cây sắt đập kính chắn gió phía trước,

kính chắn gió bên trái cửa trước, kính chắn gió bên trái cửa sau và hông thùng

bên phải xe ô tô biển số 51D - 168.68 của ông Trương Văn H3, gây thiệt hại trị

giá 9.639.000 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 23/01/2024 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Ph1).

[2] Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo

Nguyễn Ngọc Trung N 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo cũng thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng, không oan, nên chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa sơ, phúc thẩm, bị cáo

đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã cùng với đồng phạm tích cực bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có người thân được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là phù hợp.

[3.2] Xét thấy đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, bị cáo không

phải giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo và quan điểm của Kiểm sát viên, cho bị cáo được hưởng án treo. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo theo Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[5] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có

hiệu L1 pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật

Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N, sửa Bản án

hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài

sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

khoản 1 Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Văn bản số 03/VBHN-

TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hợp nhất các

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp

dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N 06 (sáu) tháng tù, nH2 cho hưởng

án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm

27/11/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N cho Ủy ban nhân dân xã H8, tỉnh Lâm

Đồng là nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện

theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo

phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc Trung N không phải chịu án

phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST

ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng không

bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu L1 pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng

cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu L1 pháp luật kể từ ngày tuyên án

(27/11/2025).

Cỡ chữ