vanban.org

Bản án 241/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2024/HS-ST
Ngày 19-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phát.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Trâm;

Ông Lê Anh Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 236/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN QUANG T, sinh năm: 1986 tại Ninh Thuận.

HKTT: Khu phố 4, phường T, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là khu phố 7, phường P); Chỗ ở hiện nay: Khu phố 10, phường P, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh T; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang L và bà Trần Thị Phương N; có vợ là Nguyễn Thị Kim P, con chưa có.

Tiền án: Ngày 08/8/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/02/2024, chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự:

- Ngày 11/10/2022, bị Trưởng Công an phường T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 06/4/2023, bị Trưởng Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chưa đóng phạt.

Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Huỳnh Thị Kim H, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Khu phố 9, phường M, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh T. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 30/8/2024, Nguyễn Quang T điều khiển xe mô tô hiệu NVX, biển số 85B1-523.80 đi trên đoạn đường H, khi đến đoạn tiệm bán rau trước số nhà 127 thuộc khu phố 9, phường M, TP Phan Rang - Tháp Chàm thì T nhìn thấy 01 điện thoại di động màu đen để ở ngăn đựng đồ bên trái phía dưới cổ xe mô tô hiệu Vision, biển số 85B1-450.71 của chị Huỳnh Thị Kim H (sinh năm 1991, trú tại khu phố 9, phường M) nên nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại. Lợi dụng lúc chị H đang quay lưng lựa rau không chú ý, T điều khiển xe mô tô tiếp cận chỗ để điện thoại; sau đó, lấy điện thoại và điều khiển xe bỏ đi. Khi nghe tiếng xe mô tô nổ, chị H đứng dậy, quay người về sau kiểm tra thì phát hiện bị mất điện thoại trên.

Sau khi trộm được điện thoại, trên đường đi T dừng lại, tháo 02 sim trong điện thoại và vứt bỏ ở dọc đường (không xác định được vị trí vứt sim). Sau đó, T mang điện thoại đến tiệm sửa điện thoại “L” ở số 334 đường H, TP Phan Rang - Tháp Chàm để mở khóa mật khẩu màn hình với giá 150.000 đồng. T đem điện thoại trên về nhà sử dụng, đến ngày 31/8/2024 thì bị Cơ quan Công an phát hiện và mời về trụ sợ làm việc. Tại Cơ quan điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 71 ngày 06/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, kết luận:

“01 (một) điện thoại di động Oppo, loại Reno 6Z 5G, màu đen, RAM 8GB ROM 128GB, số IMEI 1: 869904051460551, số IMEI 2: 869904051460544, bên trong không có sim, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường. Hiện tại, không còn sản xuất mới trên thị trường. Vào ngày 30/8/2024, tài sản này có giá trị thực là 6.100.000 đồng (sáu triệu một trăm nghìn đồng).”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về kết luận định giá tài sản nêu trên.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại di động Oppo, loại Reno 6Z 5G, màu đen.

- 02 sim điện thoại di động số 0933.796.875 và 0389.137.858 gắn trong điện thoại Oppo là sim điện thoại của chị H.

- 01 xe mô tô biển số 85B1-523.80, hiệu NVX, màu đen là phương tiện mà T đã dùng để thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 đoạn video được lưu trữ bên trong 01 đĩa DVD là đoạn video trích xuất từ camera của nhà ông Lê Văn N, sinh năm 1969, nơi thường trú: Khu phố 9, phường M, TP Phan Rang - Tháp Chàm ghi lại quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.

- 01 đĩa CD ghi lại nội dụng hỏi cung bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị H đã nhận lại tài sản. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 300.000 đồng và bị hại không có yêu cầu gì khác.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản cáo trạng số: 229/CT-VKSPRTC ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh T truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh T vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại chị Huỳnh Thị Kim H vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.

. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 09 giờ ngày 30/8/2024, tại trước số nhà 127 đường H thuộc khu phố 9, phường M, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, lợi dụng lúc chị Huỳnh Thị Kim H đang lựa rau không chú ý trông coi tài sản, Nguyễn Quang T đã lén lút lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo, loại Reno 6Z 5G, màu đen để trong hộc xe mô tô của chị H, tài sản mà bị cáoT trộm cắp có trị giá 6.100.000 đồng.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất lười lao động, muốn hưởng thụ mà không phải bỏ công sức, bị cáo vẫn bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới; thể hiện bị cáo có thái độ bất chấp và xem thường pháp luật; lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo chủ động bồi thường và được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Huỳnh Thị Kim H đã nhận lại tài sản và bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho thêm cho bị hại số tiền 300.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động Oppo, loại Reno 6Z 5G, màu đen. Quá trình điều tra, xác định là tài sản của chị Huỳnh Thị Kim H, nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho chị H là có căn cứ.

- 02 sim điện thoại di động số 0933.796.875 và 0389.137.858 gắn trong điện thoại Oppo là sim điện thoại của chị H, sau khi trộm cắp điện thoại, bị cáo đã tháo vứt sim trên đường đi về, Cơ quan điều tra không thu hồi được. Mặc khác, do 02 sim điện thoại có giá trị không đáng kể và bị hại không có yêu cầu gì, nên Cơ quan điều tra không để nghị xử lý là có cơ sở.

- 01 xe mô tô biển số 85B1-523.80, hiệu NVX, màu đen là phương tiện mà bị cáo đã dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định là tài sản của vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1978, trú tại phường T, TP Phan Rang - Tháp Chàm, ông T cho bị cáo mượn xe để đi lại, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan điều tra không tạm giữ đối với xe mô tô trên là có căn cứ.

- 01 đoạn video được lưu trữ bên trong 01 đĩa DVD là đoạn video trích xuất từ camera của nhà ông Lê Văn N, sinh năm 1969, nơi thường trú: Khu phố 9, phường M, TP Phan Rang - Tháp Chàm ghi lại quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và 01 đĩa CD ghi lại nội dụng hỏi cung bị cáo đưa lưu kèm hồ sơ vụ án.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị mức án là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19-12-2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ