vanban.org

Bản án 241/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Lê Đức D – sinh năm 1993

Phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Xử phạt: Lê Đức D 05(năm) năm, 06(sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam là ngày: 05/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Lê Đức D – sinh năm 1993
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2022/HS-ST
Ngày: 27/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Long

2. Ông Nguyễn Đức Thành

Thư ký phiên toà:Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký TAND huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà:

Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 209/2022/HSST ngày 11/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2022/QĐXX-HSST ngày 11/11/2022 đối với bị cáo:

LÊ ĐỨC D, sinh năm 1993; ĐKHK: xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 12/12; Bố đẻ không xác định; Bố dượng: Hà Văn H; con bà Lê Thị H; Danh chỉ bản: 000000335, lập ngày 05/7/2022, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/7/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*/Người bị hại: 1. Công ty TNHH đầu tư và phát triển T- Trụ sở: số 39 đường H, tổ 7 phường P, quận Hà Đông, Hà Nội; Đại diện: anh Phạm Đức T - Giám đốc. (vắng mặt) 2. Anh Phạm Đức T, sinh năm 1987; Nơi ở: P408 Đơn nguyên 2, Chung cư 9 tầng Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội. (vắng mặt)

*/Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: 1. Chị Lê Thị H, sinh năm 1973 (mẹ đẻ bị cáo); HKTT: xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt) 2. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988; HKTT: P, B, Hà Nội; nơi ở: Tổ 12 Y, Hà Đông, Hà Nội. (vắng mặt) 3. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1994; HKTT và ở tại : P902 Tòa M7 M K, Hà Đông, Hà Nội. (vắng mặt) 4. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1982; HKTT và ở tại: số nhà 123, tổ 9 N, Phú Lương, Hà Đông, Hà Nội. (vắng mặt) 5. Chị Dương Thị T, sinh năm 1986; ở tại : L, H, Hà Nội.(vắng mặt) 6. Anh Phạm Văn Thắng, sinh năm 1988; ở tại: 36 Y, T, T, Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/10/2021, anh Phạm Đức T – giám đốc Công ty TNHH đầu tư Tỏa Sáng, có kho hàng tại lô 27, Y, T, T, Hà Nội đã thuê Lê Đức D làm nhân viên thời vụ. D và anh T không ký Hợp đồng lao động bằng văn bản, chỉ thỏa T miệng với nhau về tiền lương và những việc phải làm. Nhiệm vụ của D là phát đổi các sản phẩm và đồ khuyến mại của các Công ty đối tác cùng giám sát một nhóm nhân viên lao động bán thời gian do anh Nguyễn Đắc C là người của Công ty TNHH đầu tư T Hquản lý dự án thuê và nhận một số nhiệm vụ trực tiếp từ anh C. Công ty không có thủ kho, thủ quỹ, mỗi lần D mang hàng hóa ra khỏi kho đi phát đổi hoặc hàng hóa phát đổi còn thừa, D đều phải báo cáo anh C. Trong quá trình làm việc, do anh C quen biết D từ trước nên Công ty T bố trí cho D ăn ở tại kho hàng và gửi nhờ D trông giữ hộ hàng hóa trong kho. Đồng thời, anh T có cho D mượn 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell là tài sản cá nhân của anh T để D làm việc cho Công ty.

Lợi dụng việc được gửi nhờ trông giữ các sản phẩm quà tặng và hàng hóa trong kho nên trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2022, D đã lấy các sản phẩm khuyến mại của Công ty gồm: 430 xe đạp trẻ em, 52 thùng dầu ăn, 50 nhiệt kế điện tử, 05 bộ bàn bập bênh, đem bán lấy tiền để chơi Game Pocker online, cụ thể, D bán cho những người sau:

- Bán cho chị Nguyễn Thị M 234 chiếc xe đạp trẻ em được 68.670.000 đồng.

- Bán cho chị Nguyễn Thị P 120 chiếc xe đạp trẻ em được 34.700.000 đồng.

- Bán cho chị Dương Thị T 45 xe đạp trẻ em được 12.150.000 đồng.

- Bán cho người không quen biết liên hệ qua mạng 31 xe đạp trẻ em với giá 295.000.000 đồng/chiếc được 9.145.000 đồng; 14 thùng dầu ăn với giá 395.000 đồng được 5.530.000 đồng, số người mua này đều đến công ty lấy hàng và trả tiền mặt.

- Bán cho chị Nguyễn Thị B 38 thùng dầu ăn, 50 nhiệt kế, 05 bập bênh trẻ em được 18.960.000 đồng.

- Ngoài ra, ngày 20/02/2022, D đã cầm cố chiếc laptop nhãn hiệu Dell mà anh T cho D mượn với giá 3.500.000 đồng cho anh Phạm Văn Thắng.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh T đã gặp D làm việc và đi đến những nơi D đã bán hàng để mua lại 13 chiếc xe đạp trẻ em Lestgo 12 inch và chuộc lại từ anh Phạm Văn Thắng 01 chiếc máy tính Dell màu đen và 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng mà D đã cầm cố. Sau đó, anh T làm đơn trình báo. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan C sát điều tra - Công an huyện T đã tạm giữ của anh Phạm Đức T 13 chiếc xe đạp trẻ em Lestgo 12 inch, 01 chiếc máy tính Dell màu đen và 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng.

Ngày 06/04/2022 và ngày 12/05/2022, Cơ quan C sát điều tra – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu số 49 và 63 định giá đối với số tài sản D đã chiếm đoạt.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 12/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện T kết luận: Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E7450/Core i5*5300 ram 8Gb/256GB 14inch, màu đen, đã qua sử dụng có giá trị 7.700.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 68 ngày 18/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện T kết luận:

- 430 chiếc xe đạp trẻ em nhãn hiệu Let’go 12 inches, mới chưa qua sử dụng có giá trị 163.400.000 đồng (đơn giá 380.000 đồng/chiếc);

- 52 thùng dầu ăn nhãn hiệu Trường An – Cooking Oil (12 chai 1 lít/ thùng), nguyên thùng, chưa qua sử dụng có giá trị 30.680.000 đồng (đơn giá 590.000 đồng/thùng);

- 50 nhiệt kế điện tử nhãn hiệu Chang Kun CK-T1502, mới chưa qua sử dụng có giá trị 12.500.000 đồng (đơn giá 250.000 đồng/chiếc);

- 05 ghế ngồi bập bênh 2 trong 1, mới chưa qua sử dụng có giá trị 800.000 đồng (đơn giá 160.000 đồng/chiếc);

Như vậy, tổng số tài sản D chiếm đoạt được định giá là 215.080.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức D khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, D còn khai nhận toàn bộ số tiền D bán các tài sản chiếm đoạt được của công ty đã được D sử dụng để chơi đánh bài online trên trang Thanporker.Net, tài khoản Dld93 mật khẩu HangD9593@. Trong thời gian từ tháng 10/2021 đến 01/03/2022; D đã nạp tiền nhiều lần vào tài khoản Dld93 tại trang Thanpoker.net với tổng số tiền khoảng 370.000.000 đồng mỗi lần nạp khoảng 90.000 đồng – 5.000.000 đồng để chơi và cũng trong khoảng thời gian trên D cũng rút ra khoảng 250.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT công an huyện T đã xác định được 02 tài khoản liên quan thực hiện giao dịch chuyển khoản nạp và rút tiền để đánh bạc mang tên Lê Trung Hiếu (SN 2001; HKTT: 23 An Dương Vương, Phường 2, Đà Lạt, Lâm Đồng) có số tài khoản 20208637 mở tại ngân hàng Á Châu và Nguyễn Thành Phát (SN 2002; HKTT: 29 An Dương Vương, Phường 2, Đà Lạt, Lâm Đồng) có số tài khoản số 1021445233 mở tại ngân hàng Vietcombank. Cơ quan CSĐT công an huyện T ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT công an Thành Phố Đà Lạt triệu tập và làm việc với Lê Trung Hiếu và Nguyễn Thành Phát. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, anh Lê Trung Hiếu và Nguyễn Thành Phát khai: Vào khoảng tháng 6/2021, Hiếu và Phát đã mở tài khoản ngân hàng và bán tài khoản đó cho một người tên Hoàng (Hiếu, Phát không quen biết, không biết họ tên, địa chỉ, số điện thoại của Hoàng) với giá 1.000.000 đồng. Hiện tại không xác định được người đã sử dụng tài khoản của Lê Trung Hiếu và Nguyễn Thành Phát để nạp tiền và chuyển tiền thắng bạc cho Lê Đức D.

Tiến hành xác M tại Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử để làm rõ thông tin game “thanpoker” tại đường Link https://thanpoker.net. Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử trả lời không cấp bất cứ giấy phép hoạt động nào của game “thanpoker” tại đường Link https://thanpoker.net. Qua tra cứu tại địa chỉ https://thongbaotenmien.vn ngày 06/05/2022, tên miền “thanpoker.net” chưa thông báo sử dụng tên miền Quốc Tế với bộ thông tin và truyền thông.

Căn cứ tài liệu cơ quan C sát điều tra thu thập được chưa đủ căn cứ khởi tố vụ án hình sự đối với Lê Đức D về hành vi đánh bạc. Ngày 27/10/2022, Cơ quan điều tra

- Công an huyện T tách phần hồ sơ, tài liệu liên quan đến hành vi đánh bạc của Lê Đức D và các đối tượng có liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ.

Đối với chị Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị B, chị Dương Thị T, anh Phạm Văn Thắng trong quá trình mua tài sản, cầm cố tài sản cùa D, những người này không biết tài sản do D phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với những người không quen biết mua 31 xe đạp trẻ em và mua 14 thùng dầu ăn của Lê Đức D, do D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác M, xử lý.

Đối với 12 chiếc xe đạp trẻ em Lestgo 12 inch do anh Phạm Đức T đã mua lại của chị Nguyễn Thị P và 01 chiếc xe đạp trẻ em Lestgo 12 inch do anh T đã mua lại của chị Nguyễn Thị M; 01 chiếc máy tính Dell màu đen do anh T đã mua lại của anh Nguyễn Văn Thắng; xác định là tài sản thuộc sở hữu của anh T. Ngày 02/03/2022, Cơ quan C sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả lại cho anh T, anh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền anh đã dùng để mua lại số tài sản đó.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng là tài sản của D dùng để liên lạc bán tài sản và đánh bạc online. D đã cầm cố, anh T đã chuộc lại và giao nộp cơ quan công an. Anh T cũng không yêu cầu D phải trả lại số tiền anh T bỏ ra để chuộc lại điện thoại.

Ngày 10/10/2022, anh Phạm Đức T có đơn xin rút đơn trình báo và xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với Lê Đức D với lý do gia đình D đã khắc phục hậu quả số tiền 215.080.000 đồng. Anh T viết đơn hoàn toàn tự nguyện, không bị ai đe dọa hay ép buộc gì. Về dân sự anh Phạm Đức T không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 207/CT-VKS-TT ngày 11/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Lê Đức D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Chị Lê Thị Hiền tự nguyện hỗ trợ bị cáo bồi thường thiệt hại và không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền bồi thường đã trả cho người bị hại.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Đức D theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 207/CT-VKS-TT ngày 11/11/2022 và đề nghị áp dụng khoản 3 điều 175; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 05 năm tù đến 05 năm, 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xét. Vật chứng: tịch thu sung công quỹ chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 02/2022, tại kho hàng của Công ty TNHH đầu tư Ttại địa chỉ: lô 27, Y, T, T, Hà Nội, Lê Đức D đã lợi dụng là nhân viên Công ty TNHH đầu tư Tđược giao nhiệm vụ cấp, phát các mặt hàng khuyến mại và nhờ trông giữ kho hàng, D đã lấy số hàng khuyến mại gồm: 430 xe đạp trẻ em, 52 thùng dầu ăn, 50 nhiệt kế điện tử, 05 bộ bàn bập bênh của Công ty Tmang đi bán và đem 01 chiếc máy tính nhãn hiệu Dell của anh Phạm Đức T cho D mượn mang đi cầm cố. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, D đã sử dụng để đánh bạc trên mạng hết. Tổng giá trị tài sản D đã chiếm đoạt được định giá là 215.080.000 đồng.

Hành vi của Lê Đức D đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 3 điều 175 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tài sản, trị giá tài sản mỗi lần chiếm đoạt đều đủ cấu thành tội phạm nên bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã hỗ trợ bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo tự giác ra đầu thú, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo từng là ủy viên Ban chấp hành chi hội thanh niên vận động hiến máu 5/12 và có nhiều thành tích được Ủy ban hội liên hiệp thanh niên Việt nam Thành phố Hà Nội, Viện Trưởng Viện Huyết học truyền máu Trung ương tặng giấy khen về việc đã có thành tích xuất sắc trong công tác, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo D, sinh năm 1993, trình độ văn hóa 12/12, như vậy, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do ham đánh bạc trên mạng và muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, sự xuống cấp về đạo đức, tư cách, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, lòng tin của những người bị hại để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện nhiều lần với lỗi chủ quan, cố ý, mục đích thu lợi thể hiện ý thức coi thường pháp luật, xâm hại tài sản công dân và trật tự an toàn xã hội. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt lớn. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng công tác răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hạn tù của bị cáo kể từ ngày bắt tạm giam. Xét bị cáo hiện đang tạm giam, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 175 Bộ luật hình sự.

Tang vật vụ án và án phí:

Người bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.

Đối với số tiền gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ bị cáo để khắc phục hậu quả, không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên không xét.

Đối với những người mua hàng, cầm đồ của bị cáo đều không có thiệt hại về vật chất và không yêu cầu gì nên không xét. Việc mua hàng, cầm cố tài sản trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội tiêu thụ tài sản phạm tội nên không xử lý.

Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là P tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Lê Đức D – sinh năm 1993

Phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Căn cứ: khoản 3 Điều 175; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Đức D 05(năm) năm, 06(sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam là ngày: 05/7/2022.

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14.

Dân sự: không.

Vật chứng: Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2022.

Bị cáo Lê Đức D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ