vanban.org

Bản án 241/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 31/10/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/10/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. [2] Về hình phʭt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2022/HS-PT
Ngày 31 - 10 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn, ông Trịnh Văn Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ái Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tʭi tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số 240/2022/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 216/2022/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tấn T, tên gọi khác: C, sinh năm 1994, tʭi tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn P, sinh năm 1967 và con bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tʭi Quyết định số 38/2017/QĐ-TA ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân Tp Buôn Ma Thuột áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc, thời hʭn 18 tháng.

Bị cáo bị tʭm giữ, tʭm giam từ ngày 08/3/2022 đến ngày 05/6/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh đến nay. Có mặt tʭi phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tʭi phiên tòa, nội dung v án như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 07/3/2022, Nguyễn Tấn T cùng đối tượng tên Q và 01 người bʭn của Q (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ăn nhậu tʭi quán N trên đường T, thành phố B. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, Q rủ T cùng sử d ng ma túy, loʭi khay và thuốc lắc và Q đưa cho T số tiền 5.000.000 đồng nói T mua 04 (bốn) viên thuốc lắc và nửa “hộp năm” ma túy khay thì T đồng ý. Sau đó, T mượn điện thoʭi di động của người bʭn đi cùng với Q rồi gọi vào số điện thoʭi 0948.464.572 cho S (chưa xác định được nhân thân, lʭi lịch) hỏi mua 04 (bốn) viên thuốc lắc và nửa “hộp năm” ma túy khay, thì S đồng ý bán với giá 5.000.000 đồng, hẹn giao ma tuý tʭi khu vực đường H, thành phố B. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59P1 -168.68 đi đến điểm hẹn gặp S, S đưa cho T 01 (một) gói nylon chứa 04 (bốn) viên thuốc lắc và 01 (một) gói nylon chứa ma túy dʭng khay, T đưa cho S số tiền 5.000.000 đồng. Mua xong T cất số ma túy này vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và điều khiển xe mô tô đi về.

Khi đi đến khu vực ngã tư đường P giao nhau với đường H, phường T, thành phố B thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phʭm về ma tuý Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang T và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Bản kết luận giám định số 248/GĐMT-PC09 ngày 15/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

Chất rắn dʭng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3427 gam, loʭi Ketamine; 04 viên nén màu cam bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 1,8523gam, loʭi: MDMA.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 216/2022/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phʭm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự: Xử phʭt bị cáo Nguyễn Tấn T 02 năm tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/8/2022, bị cáo Nguyễn Tấn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phʭt.

Tʭi phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phʭm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trʭng và bản án hình sự sơ thẩm.

Đʭi điện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá hành vi phʭm tội của bị cáo và cho rằng mức hình phʭt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phʭm tội và nhân thân của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T - Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hʭn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tʭi phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tʭi phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tʭi cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ v án. Như vậy, đã có đủ cơ s để kết luận:

Vào ngày 07/3/2022, tʭi khu vực ngã tư đường P giao nhau với đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Tấn T đã có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 1,8523 gam ma túy loʭi MDMA và 1,3427 gam ma túy loʭi Ketamine. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tʭi điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phʭt của bị cáo Nguyễn Tấn T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Mức hình phʭt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phʭt bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phʭm tội do bị cáo gây ra. B i lẽ, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2012, vào năm 2017 bị Tòa án nhân dân Tp Buôn Ma Thuột đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tiếp t c tái nghiện. Ngày 07/3/2022, bị cáo sử d ng số tiền 5.000.000 đồng của đối tượng Q đưa cho để đi mua ma túy loʭi MDMA có trọng lượng 1,8523 gam và 1,3427 gam loʭi Ketamine về sử d ng chung. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp d ng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tʭi phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phʭt.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hʭn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn T – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 216/2022/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về hình phʭt:

Áp d ng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phʭt bị cáo Nguyễn Tấn T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hʭn chấp hành hình phʭt tù tính từ ngày vào thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tʭm giữ, tʭm giam từ ngày 08/3/2022 đến ngày 05/6/2022.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tấn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hʭn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ