- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà Trần Thị Hoa L kiện Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh A và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quả…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n n i dung đơn kháng cáo của người khởi kiện Bà Trần Thị Hoa L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 241/2017/HC-PT Ngày 14- 9- 2017 V/v "Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Mười
Bà Trần Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 09/ 2017/TLPT–HC ngày 13 tháng 01 năm 2017 về “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm 16/2016/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 269/2017/QĐPT-HC ngày 10 tháng 4 năm 2017, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Trần Thị Hoa L (có mặt).
Địa chỉ: 68/65 Hùng Vương, Phường 2, thành phố T, tỉnh A.
Người b o vệ quy n và l i ích h p pháp của người khởi kiện: Ông Phạm Công U - thu c đoàn u t sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh A;
Người đại diện h p pháp của người bị kiện - Ủy ban nhân dân huyện V: Ông Nguyễn Hữu H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh A c đơn in t ử v ng mặt).
Người b o vệ quy n và l i ích h p pháp của người bị kiện - Ủy ban nhân dân huyện V: Ông Trần Văn âm – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V, tỉnh A.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A.
Người đại diện h p pháp của người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A: Ông Hoàng Văn – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A (c đơn in t ử v ng mặt).
Người b o vệ quy n và l i ích h p pháp của người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A: Ông guyễn Văn T – Trưởng phòng pháp chế - Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh A.
- Người có quy n l i và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị D (v ng mặt).
Người đại diện h p pháp của người có quy n l i và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1951. (có mặt).
Cùng trú tại địa chỉ: 142 đường Nguyễn Cửu Vân, Bình An Đông, Phường 4 thành phố T, tỉnh A.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh A.
Người đại diện h p pháp của người có quy n l i và nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A c đơn in t ử v ng măt).
- Người kháng cáo: gười khởi kiện Bà Trần Thị Hoa L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì n i dung vụ án được tóm t t như sau:
Bà Trần Thị Hoa L trình bày: Bà là chủ sử dụng lô đất thổ cư c đăng b trong sổ địa chính huyện, có trích lục bản đồ địa chính xác nh n ranh giới do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện V trích lục năm 2012 với hiện trạng thực tế đang sử dụng: M t phần thửa 746, 747 có diện tích 400m2 đất thổ và 748m2 đất vườn, tổng diện tích 1.148m2, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã B, huyện V, tỉnh A. (hiện nay là thửa số 1015, diện tích 1.520m2).
V nguồn gốc đất như sau:
Trước năm 1993, Công ty Công trình Giao thông A c khu đất tăng gia kinh tế t p thể được sự cho phép của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân sau đây viết t t là UBND) huyện V thống nhất cho cán b công nhân viên khai phá đất hoang dỡ tràm chim chia cho các h chuyển sang canh tác lúa. Khi đ , mặt tiền ru ng cặp L 831 được cho ph p người dân đôn nền dựng nhà để ở.
ăm 1995, Công ty Công trình Giao thông A được ph p nhượng lại cho 06 h công nhân viên từ diện tích công ty chuyển giao đất cho UBND huyện và UBND xã B, được phân lô từ trước năm 1993 để 06 h gia đình ây dựng nhà ở và canh tác trồng lúa c đề nghị cấp giấy cho 06 h của Giám đốc công ty kèm theo). Trong đ c lô đất của chị gái bà L là bà Trần Thị D đứng tên.
ăm 2004, UB D huyện V đã đồng ý cấp đất cho bà Trần Thị D.
ăm 2005, bà L sang nhượng đất lại từ bà D (có hợp đồng và xác nh n của UB D ã đồng ý và xã có yêu cầu bà thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất) và bà L là người đăng ký tên trong sổ b địa chính với diện tích 1.148m2; c đ ng thuế năm 2005, 2006 th o đúng quy định của hà nước. Cán b địa chính ch m làm giấy chứng nh n quyền sử dụng đất và kéo dài thời gian làm giấy cho bà. Bà L có tiến hành bồi đ p, san lấp mặt bằng, sử dụng liên tục và không ai tranh chấp.
Quá trình gi i quyết:
Bà L yêu cầu giải quyết liên tục từ năm 2002 đến năm 2012, Phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện V đến đo đạc hiện trạng đất nhưng vẫn không giải quyết cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho bà.
Ngày 07.10.2013, bà L làm đơn yêu cầu UBND huyện giải quyết cấp giấy cho bà.
Ngày 09.5.2014, UBND huyện ban hành Công văn số 235/UBND-TCD trả lời: “không đủ đi u kiện xét cấp lô đất này”. Ngày 09.9.2014, bà khiếu nại Công văn số 235/UBND-TCD tới UBND huyện V. Ngày 04.11.2014, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định 3508/QĐ-CT.UB D căn cứ vào ác minh và đối thoại của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện đưa ra lý do: Đất này là đất công, việc chuyển nhượng sai pháp lu t và cho rằng bà không có quyền và nghĩa vụ liên quan nên bác đơn khiếu nại của bà.
Không đồng ý với Quyết định 3508/QĐ-CT.UBND của Chủ tịch UBND huyện; ngày 12.11.2014, bà L khiếu nại lên UBND tỉnh A xem xét giải quyết.
Ngày 12.02.2015, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định 569/QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của bà, không đồng ý cấp quyền sử dụng đất lô đất của bà Trần Thị D đã sang nhượng lại cho bà, thửa đất 1015, diện tích 1.520m2.
Đến này 17.12.2015, Chủ tịch UBND tỉnh A tiếp tục ban hành Công văn số 5022 trả lời cho bà về việc không thể giao đất cho bà vì hiện nay có kế hoạch lấy lại lô đất này làm văn phòng.
Vì những căn cứ nêu trên, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh A hủy Quyết định 3508/QĐ-CT.UBND ngày 04.11.2014 của Chủ tịch UBND huyện V và Quyết định giải quyết tranh chấp số 569/QĐ-UBND ngày 12.02.2015 của Chủ tịch UBND tỉnh A.
Tại Văn bản số 573/UBND-TCD ngày 31.8.2016, phiên đối thoại ngày 24.8.2016 của UBND huyện V, là người bị kiện và tại phiên tòa, đại diện là ông Nguyễn Hữu H trình bày:
ăm 1984, Công ty Công trình Giao thông thu c Sở Giao thông – V n tải tỉnh A được giao khu đất sản xuất tự túc (trồng tràm) tại ấp 2, xã B, có vị trí cách Đường tỉnh 831 hiện nay khoảng 150m (không có giấy tờ giao đất).
ăm 1993, Công ty Công trình Giao thông sang nhượng số đất sản xuất này lại cho 09 h để trồng lúa, trong đ c bà Trần Thị D nh n sử dụng phần đất có diện tích 18.754m2.
gày 02.03.1995, Công ty Công trình Giao thông c Công văn 262/TC.HC.95 đề nghị cấp đất thổ cư cho 06 h cán b , công nhân viên của Công ty tại khu đất giáp với Đường tỉnh 831, thu c ấp 2, xã B. Trong đ c bà Trần Thị D với diện tích 1.600m2 (r ng 20m x dài 80m).
Đối với các h khác th o đề nghị cấp đất thổ cư của Công ty Công trình Giao thông, UBND xã B, UBND huyện V đã m t công nh n và cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, vì các h này thực sự có nhu cầu sử dụng, có công cải tạo đất, đầu tư san lấp mặt bằng, xây nhà ở ổn định và đủ điều kiện th o quy định pháp lu t.
Trường hợp bà D, ngoài Công văn số 262 ngày 02.3.1995 của Công ty Công trình Giao thông A đề nghị cấp đất thổ cư, bà D hoàn toàn không có làm thủ tục nào để xin cấp đất hoặc xin cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất đối với phần đất này và cũng không khai thác sử dụng đối với phần đất này.
ăm 2005, bà D l p Hợp đồng chuyển nhượng đất ru ng và đất thổ cư này lại cho Bà Trần Thị Hoa L, UBND xã B chỉ chấp thu n cho chuyển nhượng phần đất ru ng, còn phần đất thổ cư là không chấp nh n.
ăm 2012, bà L thuê phương tiện đào ao, đ p nền nhưng đã bị UB D ã đình chỉ không cho thực hiện cho đến nay.
Vị trí đất mà bà L khiếu nại yêu cầu cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất thu c m t phần thửa 746 và m t phần thửa 747, thửa đất mới 1015, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.148m2 tại xã B. Theo sổ mục kê lưu trữ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, thửa đất này do UB D ã đứng tên đăng ký. mặt khác, khu vực quy hoạch đất thổ cư cặp đường Tỉnh l 831) hoàn toàn riêng biệt với khu đất sản xuất của bà L tại điểm gần nhất trên 650m.
Theo xác nh n của ông Trần Thanh C, ông ê Văn T và các h dân sống khu vực này thì phần đất mà Bà Trần Thị Hoa L khiếu nại, từ trước đến nay không ai sử dụng bỏ hoang, cây m c mèo mọc um tùm. Đến đầu năm 2016, các h sử dụng đất liền kề mới dọn m c mèo trồng cỏ làm thức ăn cho bò.
Quá trình khiếu nại của bà L không chứng minh được quyền sử dụng đất của bà D và cũng không sử dụng. hư v y, phần đất này là đất hà nước quản lý, sử dụng, không phải đất của bà D. Việc bà D l p giấy chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà L chính là phần đất hà nước quản lý vừa nêu. Do đ , Chủ tịch UBND huyện V quyết định bác đơn khiếu nại yêu cầu cấp GC QSDĐ đối với phần đất này là đúng quy định pháp lu t.
Tại Văn bản số 3088/UBND-TCD ngày 11.8.2016, phiên đối thoại ngày 08.8.2016 của UBND tỉnh A là người bị kiện và tại phiên tòa, đại diện là Ông Hoàng Văn trình bày:
ăm 1984, Công ty Công trình giao thông trực thu c Sở Giao thông v n tải A được giao khu đất để sản xuất tự túc, đất tọa lạc tại xã B, huyện V.
ăm 1933, Công ty Công trình giao thông sang nhượng phần đất sản xuất cho 09 h để trồng lúa, trong đ c h bà Trần Thị D nh n chuyển nhượng phần đất diện tích theo bản đồ địa chính hiện nay là 18.754m2.
gày 02.3.1995, công ty c Công văn số 262/TC.HC.95 với n i dung: “Đ nghị UBND huyện V và UBND xã B làm thủ tục cấp đất thổ cư cho 06 hộ, trong đó có hộ bà Trần Thị D, diện tích 1.600m2 (rộng 20m x dài 80m)”.
hư v y, công ty sang nhượng lại đất trồng lúa cho bà D diện tích 18.754m2; đồng thời Công ty đề nghị hà nước l p thủ tục cấp đất thổ cư cho bà D diện tích 1.600m2 nhưng chưa được hà nước phê duyệt, 02 phần đất này có diễn biến như sau:
- Phần đất trồng lúa (hiện nay không khiếu nại): UBND huyện V đã cấp giấy cho bà D năm 2006 với diện tích 18.754m2.
- Phần đất thổ cư đang khiếu nại): Trong 06 h công ty đề nghị hà nước l p thủ tục cấp đất thổ cư thì 05 h thực tế có nhu cầu sử dụng, đã lên nền xây nhà ở ổn định, nên được UBND huyện cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Vị trí đất khiếu nại hiện nay là thửa 1015, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.148m2, đất tọa lạc tại xã B.
Về việc chuyển nhương quyền sử dụng đất từ bà Trần Thị D sang Bà Trần Thị Hoa L:
- Ngày 09.7.2001, bà D l p giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho bà L sử dụng, gồm phần đất trồng lúa với diện tích 1,89ha và phần đất thổ 1.520m2 (không có xác nh n của chính quyền địa phương).
- Ngày 08.6.2005, bà D tiếp tục l p lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L, gồm: Phần đất trồng lúa diện tích 1,89ha và phần đất thổ cư diện tích 1.520m2 (thửa 1015). Hợp đồng này được UBND xã B xác nh n ngày 25.7.2007 là bà D c đất sản xuất nông nghiệp. Riêng đất thổ cư, UB D ã không xác nh n là bà D c đất.
- Ngày 16.11.2006, bà L đến UBND xã kê khai xin n p thuế năm 2005 và 2006 cho phần đất thổ cư, cán b thuế do không n m được nguồn gốc và sử dụng đất nên thu thuế năm 2005, 2006.
- Tháng 5.2012, bà L đào ao lấy đất đ p nền nhà trên phần đất thổ cư, UB D xã l p biên bản yêu cầu đình chỉ thực hiện.
- Ngày 30.8.2012, bà L c đơn gửi UBND xã khiếu nại ông Nguyễn Văn Q lấn chiếm đất thổ cư của bà với diện tích 16m2. Việc khiếu nại được UBND xã hòa giải nhưng không thành, bà L khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện V, do bà L không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nên Tòa án huyện trả lại đơn khởi kiện của bà L.
- Ngày 07.10.2013, bà L gửi đơn đến UBND huyện xin cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất đối với phần đất thổ cư, diện tích 1.520m2 với lý do: Đất bà D chuyển nhượng lại cho bà sử dụng từ năm 2001 đến nay.
Ngày 13.5.2014, UBND huyện có Kết lu n số 247/KL-UBND về thanh tra công vụ công tác giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND xã. Th o đ , UBND huyện không thừa nh n việc chuyển nhượng đất thổ cư giữa bà D với bà L. Đồng thời, giao UBND xã xuất ngân sách hoàn thu thuế nhà đất năm 2005, 2006 cho bà L với số tiền 100.800đ.
Ngày 04.11.2014, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định 3508/QĐ-CT.UBND với n i dung:
“Bác đơn khiếu nại của Bà Trần Thị Hoa L v việc yêu cầu cấp giấy CNQSDĐ có tổng diện tích 1.148m2 thuộc thửa 1015, TBĐ số 5, tại xã B, huyện V.
Lý do: Phần đất bà L yêu cầu cấp giấy CNQSDĐ thuộc quỹ đất công ích do Nhà nước qu n lý. Việc chuyển như ng giữa bà L và bà Trần Thị D là không đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, bà L là người không có quy n l i và nghĩa vụ liên quan, việc khiếu nại yêu cầu cấp giấy CNQSDĐ của bà L là không có căn cứ pháp luật để xem xét”.
Ngày 12.02.2015, Chủ tịch UBND tỉnh A ban hành Quyết định 569/QĐ-UB D bác đơn khiếu nại của bà L, giữ nguyên Quyết định 3508/QĐ-CT.UBND ngày 04.11.2014 của Chủ tịch UBND huyện V.
UBND tỉnh đề nghị Tòa án xem xét không chấp nh n đơn khởi kiện của Bà Trần Thị Hoa L.
Tại phiên đối thoại ngày 08.8.2016 và tại phiên tòa, Ông Nguyễn Ngọc H là người đại diện cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan (bà Trần Thị D) trình bày:
ăm 1984, hà nước v n đ ng dân tăng gia sản xuất, Công ty Công trình Giao thông c in 30 ha đất để trồng tràm, trồng được 07 – 08 năm, thu hoạch được 01 đợt tràm thì Công ty Công trình Giao thông tiến hành chia đất cho công nhân viên chức (gồm đất ru ng và đất thổ cư, trong đ c chia cho h bà Trần Thị D). Bà D canh tác được 02 – 03 năm thì chuyển nhượng lại cho Bà Trần Thị Hoa L canh tác (có hợp đồng chuyển nhượng). Sau này, hà nước cấp chứng nh n quyền sử dụng đất cho các h dân được chia đất, riêng h bà L không được cấp chứng nh n quyền sử dụng đất. Việc UBND huyện V không đồng ý cấp giấy cho bà L là không đúng quy định. Vì đất bà L đã sử dụng từ trước đến nay.
Tại B n án hành chinh sơ thẩm số 16/2016/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:
Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hoa L về việc hủy hai Quyết định 3508/QĐ-CT.UBND ngày 04.11.2014 của Chủ tịch UBND huyện V và Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 12.02.2015 của Chủ tịch UBND tỉnh A cùng về việc “gi i quyết khiếu nại của Bà Trần Thị Hoa L, đất tọa lạc tại xã B, huyện V”.
Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hoa L về việc bu c UBND huyện V cấp chứng nh n quyền sử dụng đất đối với thửa 1015, diện tích 1.520m2 tại xã B.
goài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo của các đương sự th o quy định của pháp lu t.
Ngày 30/9/2016 người khởi kiện Bà Trần Thị Hoa c đơn kháng cáo toàn b n i dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện Bà Trần Thị Hoa L không rút đơn kháng cáo và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị H i đồng xét xử cấp phúc thẩm: Hủy Quyết định hành chính số 3508/QĐ-UBND, ngày 04/11/2014của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V và Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 12/02/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh A về việc không chấp nh n cấp thổ cư m t phần thửa đất số 746 có diện tích 400m2 tại xã B, huyện V cho bà. Và bu c UBND huyện V cấp chứng nh n quyền sử dụng đất đối với thửa 1015, diện tích 1.520m2 tại xã B.
gười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà trình bày đề nghị Tòa cấp phúc thẩm chấp nh n đơn kháng cáo của bà bởi các lý do:
guồn gốc đất bà in cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là của Công ty công trình giao thông cấp cho bà D vào năm 2001 bà D sang nhượng lại cho bà L. Tuy nhiên việc sang nhượng không th o đúng qui định của pháp lu t nhưng th o qui định của lu t đất đai hiện thì những giao dịch mua bán bằng giấy tay trước tháng 7 năm 2004 mà không c tranh chấp thì được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Hơn nữa từ trước đến nay chưa c văn bản nào thu hồi lại phần đất hà nước cấp cho Công ty công trình giao thông và phần đất Công ty công trình giao thông cấp cho bà D. Mặt khác vào năm 2004 bằng m t văn bản trả lời của UB D huyện cho bà thể hiện n i dung đồng ý cấp cấp giấy chứng nh n cho 5 h dân thì c h của bà D.
gười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên người bị kiện trình bày tại phiên tòa cấp phúc thẩm các n i dung sau:
Căn cứ chứng cứ chứng cứ đã thu th p và lời trình bày của các bên trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện việc kháng cáo của người khởi kiện là không c cơ sở pháp lu t. Đề nghị H i đồng t ử cấp phúc thẩm không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện và đề nghị H i đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nh n kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
gười đại diện hợp pháp của người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà D trình bày:
Việc Ủy ban nhân dân huyện không cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho bà là không đúng. Vì bà D được Công ty công trình giao thông giao đất từ năm 1984 bà D đã sang nhượng cho bà là hợp pháp nên đề nghị H i đồng t ử chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bà .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tiến hành đúng th o qui định của lu t tố tụng hiện hành, không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hơp pháp của các đương sự. X t về n i dung vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các chứng cứ thu th p trong quá trình tiến hành tố tụng để phán ử không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của người bị kiện là c căn cứ đúng pháp lu t. Do v y đề nghị H i đồng t ử bác yêu cầu kháng cáo của Bà Trần Thị Hoa giữ nguyên bản án sơ thẩm. goài ra vị đại diện Viện kiểm sát còn nêu: Bà cho rằng bà D c quyền sử dụng đất hợp pháp trước khi sang nhượng cho bà nhưng, thực tế không phải như v y dẫn đến quyền và lợi ích của bà bị âm phạm thì bà c quyền yêu cầu bà D phải làm đủ các thủ tục để được cấp quyền sử dụng đất trước khi sang nhượng cho bà. Trường hợp bà D không thực hiện được thì bà c quyền khởi kiện bà D bằng vụ kiện Dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
X t kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người khởi kiện Bà Trần Thị Hoa L, H i đồng t ử t thấy:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm ác định đối tượng khởi kiện, quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, việc ác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự được thực hiện đúng quy định của Lu t tố tụng hành chính.
Về nh n định, đánh giá chứng cứ và phán quyết của bản án sơ thẩm:
Căn cứ các chứng cứ thu th p trong quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện Bà Trần Thị Hoa L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định của Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban nhân dân tỉnh A bởi bà cho rằng: m t phần thửa 746, 747 có diện tích 400m2 đất thổ và 748m2 đất vườn, tổng diện tích 1.148m2, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã B, huyện V, tỉnh A. (hiện nay là thửa số 1015, diện tích 1.520m2) trước đây do bà Trần Thị D (là chị bà) sử dụng hợp pháp. Đến năm 2005 bà D đã sang nhượng phần đất trên cho bà nên bà c đủ điều kiện để được công nh n quyền sở hữu do v y việc Ủy ban nhân dân huyện V không cấp giấy chứng nh n cho bà L theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 3508/QĐ-CT.UBND ngày 04/11/2014 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 569/QĐ-UBND ngày 12/02/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh A là không đúng. Bản án sơ thẩm xử không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà là không bảo vệ quyền và lợi ích của gia đình bà. Do v y bà yêu cầu Tòa phúc thẩm chấp nh n kháng cáo của bà sửa án sơ thẩm th o hướng chấp nh n yêu cầu khởi kiện về việc tuyên hủy Quyết định hành chính số 3508/QĐ-UBND, ngày 04/11/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V và Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 12/02/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh A.
Xét thấy, theo những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Nguồn gốc phần đất bà L yêu cầu cấp giấy chứng nh n trước đây do Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Xí nghiệp cầu đường thủy b trồng tràm trên phạm vi 30ha đất cạnh đ p Bình Châu. Hiện nay những văn bản giao đất cho Xí nghiệp không còn lưu giữ tuy nhiên căn cứ hiện trạng thực tế thấy rằng: ăm 1995, từ m t phần diện tích được Ủy ban nhân dân tỉnh giao trồng tràm, Công ty đã chia 06 phần đất ở, mỗi phần ngang 20m, dài 80m cho 06 h cán b công nhân của công ty, trong đ c h bà D th o công văn số 262 ngày 02/3/1995. Ủy ban nhân dân huyện đã cấp thổ cư cho 5 h đúng với diện tích mà Công trình giao thông đã chia do 05 h này thực tế có nhu cầu sử dụng, đã lên nền xây dựng nhà ở ổn định. Đối với trường hợp của bà Trần Thị D, khi giải thể Công ty công trình giao thông đề nghị Ủy ban nhân dân huyện cấp đất cho bà D nhưng không c căn cứ chứng minh việc bà D đã liên hệ cơ quan hà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất và phần đất trên cũng bỏ hoang, bà Trần Thị D không sử dụng.
ăm 2005 bà D l p Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L nhưng không được Ủy ban nhân dân xã B chứng thực do bà D không có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Từ tình tiết trên đã thể hiện, không c cơ sở để xác định bà Trần Thị D được hà nước giao quyền sử dụng hợp pháp của m t phần thửa 746, 747 có diện tích 400m2 nên bà D không có quyền để chuyển nhượng cho Bà Trần Thị Hoa L. Mặt khác, từ năm 2000 phần đất này được ghi trong Sổ mục kê thu c quyền sử dụng của Ủy ban nhân dân xã B.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban nhân dân tỉnh A không chấp nh n đơn khiếu nại của bà L về việc yêu cầu cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất có tổng diện tích 1.148m2 thu c thửa đất 1015, tờ bản đồ số 5, tại xã B, huyện V với lý do phần đất bà L yêu cầu thu c quỹ đất công ích do hà nước quản lý chưa cấp quyền sử dụng đất cho cá nhân, h gia đình nào. Việc chuyển nhượng giữa bà D và bà L là không đúng pháp lu t nên không c căn cứ để xem xét cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất nêu trên cho bà L là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 50 Lu t đất đai 2003 và khoản 2 Điều 101 Lu t đất đai năm 2013.
Tòa án cấp sơ thẩm đã m t đầy đủ các chứng cứ và làm rõ những tình tiết trong vụ án. Do v y, H i đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy, chấp nh n lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nh n n i dung đơn kháng cáo của Bà Trần Thị Hoa L, giữ nguyên án sơ thẩm.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Thị Hoa phải chịu th o qui định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 B lu t Tố tụng hành chính năm 2015;
1. Không chấp nh n n i dung đơn kháng cáo của người khởi kiện Bà Trần Thị Hoa L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hoa L về việc yêu cầu Hủy Quyết định số 3508/QĐ-CT.UBND, ngày 04/11/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V và Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 12/02/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A cùng về việc “giải quyết khiếu nại của Bà Trần Thị Hoa L, đất tọa lạc tại xã B, huyện V”
Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của Bà Trần Thị Hoa L về việc bu c Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất đối với thửa 1015, diện tích 1.520m2 tại xã B.
Áp dụng khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Khoản 1 mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án:
Bu c Bà Trần Thị Hoa L n p 200.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm nhưng được khấu trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã n p tại biên lai thu số 0000179, ngày 16/3/2016 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An.
2. Án phí hành chính phúc thẩm là 200.000 đồng Bà Trần Thị Hoa L phải chịu nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí đã n p số 0000333 ngày 30/9/2016 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Những phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
Các thẩm phán
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Mười
Trần Thị Thu Thủy
Phạm Thị Duyên