- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "DS"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Mua bán nợ W.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2406/2025/DS-ST Ngày: 30/9/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Quang Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hiền.
2. Ông Lê Văn Khanh.
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 466/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 06 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 807/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 648/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua bán nợ W. Trụ sở: XX Điện Biên Phủ, phường Thạnh Mỹ Tây (trước đây là Phường 25, quận Bình Thạnh), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Trần Anh C, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 428/2025/UQ-W ngày 10/4/2025). (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: bà Trần Thị N. Sinh năm 1977. Thường trú: XX Đường số 6, KDC Lê Thành, An Dương Vương, phường An Lạc (trước đây là phường An Lạc, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn: theo Công ty TNHH Mua bán nợ W (gọi tắt là Công ty W) do ông Trần Thanh C là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 20/06/2022, Công ty W đã ký hợp đồng mua bán nợ số 27XX/2022/TTCN/MAFC-W với Công ty Tài chính TNHH Một thành viên MA về khoản nợ của bà Trần Thị N.
Theo đó, vào ngày 23/03/2021, bà Trần Thị N và Công ty tài chính TNHH MTV MA đã ký Hợp đồng tín dụng số 2120526 để vay tiền với các nội dung sau: số tiền vay: 21.100.000 đồng; thời hạn: 24 tháng; lãi suất: 50%/năm; Mục đích vay: Tiêu dùng sinh hoạt.
Kể từ ngày 17/07/2021, bà Trần Thị N đã không thanh toán mặc dù Công ty Tài chính TNHH MTV MA (Việt Nam) và sau đó là Công ty W đã thực hiện nhắc nhở bằng nhiều biện pháp. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 30/09/2025, bà Trần Thị N cần phải thanh toán là: 65.534.957 đồng, trong đó gồm: nợ gốc: 18.593.258 đồng; nợ lãi: 46.941.699 đồng.
Công ty W yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên. Ngoài ra, kể từ ngày 01/10/2025, nếu bà Trần Thị N vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ, bà Trần Thị N vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
* Bị đơn: bà Trần Thị N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 20/8/2025 nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án đã thu thập chứng cứ:
Theo xác minh của Công an phường An Lạc, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Trần Thị N thường trú và thực tế cư trú tại XX Đường số 6, KDC Lê Thành, An Dương Vương, phường An Lạc (trước đây là phường An Lạc, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa: Đại diện Công ty W có đơn xin vắng mặt. bà Trần Thị N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ quy định pháp luật về tố tụng. Vụ án đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về đường lối giải quyết vụ án: căn cứ các tài liệu, chứng cứ Hợp đồng tín dụng số 2120526 ngày 20/6/2022, Các thông báo chuyển nợ, yêu cầu thanh toán; Bản tự khai, bản kê tính lãi, Hợp đồng mua bán nợ; Đã có đủ cơ sở xác định: giữa Công ty Tài chính TNHH MTV MA và bà Trần Thị N đã ký hợp đồng tín dụng đúng quy định pháp luật, việc tính lãi, phí đúng theo thỏa thuận của hợp đồng. Việc Công ty W mua lại khoản nợ này của Công ty Tài chính TNHH MTV MA đúng theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày 17/07/2021, bà Trần Thị N đã không thanh toán nợ, vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 30/09/2025, bà Trần Thị N cần phải thanh toán là: 65.534.957 đồng, trong đó gồm: nợ gốc: 18.593.258 đồng; nợ lãi: 46.941.699 đồng.
Công ty W yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên. Ngoài ra, kể từ ngày 01/10/2025, nếu bà Trần Thị N vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ, bà Trần Thị N vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ. Yêu cầu của Công ty W là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: xét đơn khởi kiện của Công ty W cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bị đơn là bà Trần Thị N có nơi cư trú tại XX Đường số 6, KDC Lê Thành, An Dương Vương, phường An Lạc, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.
Về thủ tục tố tụng: trước khi mở phiên tòa, Công ty W có đơn xin vắng mặt, bà Trần Thị N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện của Công ty W và bà Trần Thị N.
Về nội dung:
Căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng tín dụng số 2120526 ngày 20/6/2022, Các thông báo chuyển nợ, yêu cầu thanh toán; Bản tự khai, bản kê tính lãi, Hợp đồng mua bán nợ; Đã có đủ cơ sở xác định: giữa Công ty tài chính TNHH MTV MA và bà Trần Thị N đã ký hợp đồng tín đúng quy định pháp luật, việc tính lãi, phí đúng theo thỏa thuận của hợp đồng. Việc Công ty W mua lại khoản nợ này của Công ty tài chính TNHH MTV MA đúng theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày 17/07/2021, bà Trần Thị N đã không thanh toán nợ, vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 30/09/2025, bà Trần Thị N cần phải thanh toán là: 65.534.957 đồng, trong đó gồm: nợ gốc: 18.593.258 đồng; nợ lãi: 46.941.699 đồng.
Công ty W yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà Trần Thị N có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên. Ngoài ra, kể từ ngày 01/10/2025, nếu bà Trần Thị N vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ, bà Trần Thị N vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Công ty W.
Về án phí:
Bà Trần Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán 65.534.957đ, án phí là 3.276.748đ.
Công ty W được hoàn trả 1.487.796đ tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật, nên thống nhất.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 173; Điều 174; Điều 179; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi 2017;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Mua bán nợ W.
Buộc bà Trần Thị N thanh toán cho Công ty TNHH Mua bán nợ W số tiền nợ tính đến ngày đến ngày 30/9/2025, số tiền nợ gốc: 18.593.258đ; nợ lãi: 46.941.699đ, tổng cộng 65.534.957 (Sáu mươi lăm triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn chín trăm năm mươi bảy đồng).
Bà Trần Thị N còn phải chịu lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2120526 ngày 23/3/2021, tính từ ngày 01/10/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí: bà Trần Thị N phải chịu 3.276.748 (Ba triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty TNHH Mua bán nợ W được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.487.796 (Một triệu bốn trăm tám mươi bảy nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0077667 ngày 06/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND KV9-TpHCM; - THADS TpHCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Phong |