- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "không thuộc trường hợp công bố"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Bích L đối với anh Hồ Tấn V về việc " tranh chấp về ly hôn và nuôi con".
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 240/2026/HNGĐ-ST Ngày: 16-7-2026 V/v: “tranh chấp về ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Thêm.
2. Ông Lương Văn Ánh.
- Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Hoàng Sa là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Võ Hồng Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 201/2026/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2026 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1017/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1023/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Võ Thị Bích L, sinh năm 1995. Vắng mặt
Địa chỉ: thôn T, xã N, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: anh Hồ Tấn V, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn L, xã N, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2026, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn - chị Võ Thị Bích L, trình bày:
Về hôn nhân: chị L và anh V tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 42 ngày 27 tháng 5 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi vả, bất đồng quan điểm sống. Hiện tại chị L và anh V không còn sống chung. Nay chị L xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh Hồ Tấn V.
Về con chung: có một người con chung tên Hồ Tuệ M, sinh ngày 27/8/2017. Sau khi ly hôn, chị L có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng cháu M đến tuổi thành niên và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
* Đối với bị đơn - anh Hồ Tấn V: từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V, nhưng anh V vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ: nguyên đơn - chị L nộp: 01 bản chính và 01 bản sao giấy chứng nhận kết hôn; 01 bản trích lục kết hôn, 01 bản sao Căn cước công dân, 01 bản sao Giấy khai sinh.
Toà án thu thập:
- 01 biên bản xác minh vào ngày 13/5/2026 tại Công an xã N, thành phố Đà Nẵng cho biết: anh V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã N, thành phố Đà Nẵng; chủ hộ là ông Hồ Tấn D (cha anh V), anh V hiện sống cùng nhà với ông D.
- 01 biên bản xác minh ngày 14/5/2026 tại Hội liên hiệp phụ nữ xã N về nguyên nhân mâu thuẫn và điều kiện nuôi con của chị L và anh V.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn - anh Hồ Tấn V có nơi cư trú tại thôn L, xã N, thành phố Đà Nẵng. Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh V và yêu cầu được trực tiếp nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.
. Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa nguyên đơn - chị L có đơn xin vắng mặt, bị đơn – anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.
. Về nội dung vụ án:
. Về hôn nhân: chị L và anh V tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 42 ngày 27 tháng 5 năm 2016 nên là hôn nhân hợp pháp. Theo chị L, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi vả, bất đồng quan điểm sống, hiện tại chị L và anh V không sống chung. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Hồ Tấn V không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị L. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: chị L và anh V có một người con chung tên Hồ Tuệ M, sinh ngày 27/8/2017. Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh V không có ý kiến về yêu cầu nuôi con của chị L. Tại bản trình bày, cháu M có nguyện vọng được sống với chị L. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, cần giao cháu Hồ Tuệ M cho chị Liên tiếp T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị L yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Anh Hồ Tấn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở phù hợp với quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: chị L và anh V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Bích L đối với anh Hồ Tấn V về việc " tranh chấp về ly hôn và nuôi con".
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Võ Thị Bích L và anh Hồ Tấn V.
2. Về con chung: 01 con chung tên là Hồ Tuệ M, sinh ngày 27/8/2017. Giao cháu Hồ Tuệ M cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu M mỗi tháng 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 8 năm 2026 đến khi cháu M đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: không có.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Võ Thị Bích L phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà chị L đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004745 ngày 11/5/2026 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, anh Hồ Tấn V phải chịu.
6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 6 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND khu vực 6 – Đà Nẵng; - Chi cục THADS thành phố Đà Nẵng; - UBND xã Nông Sơn (Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 27/5/2016); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Loan |