- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Thế N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 240/2024/HSPT Ngày: 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường
Các thẩm phán:
Ông Phạm Ngọc Thái
Ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Gia Linh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204 2024 TL T-H ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối v i cáo Hồ Thế N về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của cáo đối v i ản án hình sự s thẩm số 25 2024 H - T ngày 15 3 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 844 2024 QĐXX T-H ngày 09 tháng 5 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo:
Hồ Thế N; Gi i tính: Nam; Tên gọi khác: Nam Tôn; inh ngày: 19 7 1994; Tại: Đắk Lắk; N i cư trú: Thôn , xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10 12; Quốc t ch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tiền án, Tiền sự: Không. Con ông: Hồ Thế T, sinh năm 1969; Con à: han Th C, sinh năm 1971; Gia đình cáo có 02 anh, em ruột,
cáo là con thứ nhất; cáo có vợ: hùng Th H (Đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2015. cáo
ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 10 2023 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Ngọc H1 - Văn phòng Luật sư Hồ Ngọc H1, đoàn luật sư tỉnh Đ. Đ a chỉ: I T, phường T, thành phố , tỉnh Đắk Lắk, có mặt. Bị hại: Ông Tô Văn N1, sinh năm 1996. Đ a chỉ: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Đ4, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Vào ngày 21 01 2020 (ngày 27 tết âm l ch), trong lúc nhà Lý Anh T1, (sinh năm 1994, trú tại thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đang tổ chức tiệc tất niên thì Tô Văn N1, cùng một số đối tượng khác kéo đến đập phá đồ đạc, tài sản trong nhà Lý Anh T1, làm hư hỏng 01 ghế gỗ, 01 loa nghe nhạc, làm ể cửa kính (thiệt hại không đáng kể), mặc dù vụ việc đã được Công an xã C giải quyết, hoà giải nhưng giữa ản thân Lý Anh T1 vẫn còn mâu thuẫn, xích mích v i Tô Văn N1. Chiều ngày 17/8/2020, Lý Anh T1 cùng v i Vũ Văn Đ, Hồ Thế N, (sinh năm 1994, trú tại thôn , xã E, huyện E), Nguyễn Văn L, và Vũ Văn T2 ngồi nhậu tại nhà của T1. Đến khoảng 22h00’ cùng ngày thì cả nhóm đến hát Karaoke tại phòng số 02 quán K1 thuộc thôn E, xã C, huyện E. Ngồi hát một lúc thì T2 qua phòng số 06 của quán hát cùng các ạn gồm Lê Quang H2, Lê Khả T3, Nguyễn Dlêda N2, Nguyễn Đình N3. Lúc này, tại quán K1 cũng có nhóm của Tô Văn N1, Lý Văn Đ1, ùi Văn , Hà Quốc K và Nguyễn Trung N4 hát tại phòng số 01. Khoảng 24h00’ cùng ngày thì T2 không hát nữa và được Lê Khả T3 chở về nhà của T1 nghỉ ng i và đợi anh trai là Vũ Văn Đ chở về. Một lúc sau, nhóm của Tô Văn N1 nghỉ và đi ra quầy tính tiền để về, nhưng khi thanh toán thì nhóm của N1 không đủ tiền nên chủ quán là à Nguyễn Th H3 đóng cổng quán và yêu cầu nhóm của N1 phải thanh toán tiền trư c khi về. Lúc này, nhóm của T1 cũng vừa đi ra, do quen iết à H3 nên T1 yêu cầu Tô Văn N1 thanh toán tiền cho à H3 trư c khi về, Tô Văn N1 không đồng ý, kéo cổng để lấy xe mô tô về thì nhóm của N1 gồm Tô Văn N1, Lý Văn Đ1 và S xông vào đánh nhau ằng tay chân v i nhóm của T1 gồm T1, Vũ Văn Đ, Hồ Thế N và L. Lúc này, T1 dùng điện thoại gọi cho T2 nói “anh em đang đánh, mày mang hàng xuống đây” thì T2 hiểu là T1 nói T2 mang hung khí đến để giúp nhóm T1 đánh nhau nên lấy 01 ao đựng tuýp sắt, ống tuýp sắt một đầu gắn dao, các loại dao cất giấu ở nhà T1 rồi dùng xe mô tô chở đến quán K1. Lúc này, tại quán K1, trong lúc đánh nhau Lý Văn Đ1 dùng tay đấm trúng mũi của L và T1 gây thư ng tích nên nhóm của T1 lùi vào trong quán, còn nhóm của N đứng trư c cổng quán, hai ên nhặt gạch, đá, ghế nhựa, cây củi ném nhau qua lại nhưng không ai thư ng tích gì. Còn Tô Văn N1 chạy đến ên hông nhà ông Lê Đăng Đ2 gần quán Hàm H4 lấy 01 con dao dài khoảng 30cm rồi quay lại phía trư c cổng quán K1. Khi T2 chở ao hung khí đến thì Tô Văn N1 chặn xe T2 lại trư c cổng quán làm ao hung khí đổ xuống đường. Thấy vậy, Lý Văn Đ1 chạy đến lấy 01 đoạn tuýp sắt trong ao xác rắn mà T2 chở đến cầm trên tay thì nhóm của T1 cũng chạy ra lấy hung khí, trong đó T1 lấy được 01 tuýp sắt một đầu gắn dao, Nguyễn Văn L lấy 01 cây tuýp sắt tròn dài khoảng 60cm đến 70cm, Vũ Văn Đ lấy được 01 cây tuýp sắt dài khoảng 90cm cầm trên tay. Thấy nhóm của T1 có cầm hung khí nên Tô Văn N1 giữ T2 ở phía trư c, N1 đứng phía sau để không
nhóm của T1 đánh. Lúc này, T2 vùng ra chạy thoát làm con dao trên tay của Tô Văn N1 b r t xuống đất. Tô Văn N1 thấy Lý Văn Đ1 đứng gần đó có cầm 01 cây tuýp nên chạy lại giật cây tuýp trên tay của Đ1. Lý Văn Đ1 lùi lại phía sau thì nhóm của Lý Anh T1 gồm T1, Vũ Văn Đ, Hồ Thế N và L xông đến đuổi đánh thì Đ chạy về hư ng ngã tư 714 thuộc thôn E, xã C, huyện E, còn T2 chạy vào sân nhà anh Lê Đăng Đ2, lấy một gậy tre dài khoảng 01m chạy ra đường và đuổi theo phía sau nhóm của T1 để đánh Lý Văn Đ1. Tô Văn N1 thấy nhóm của T1 đuổi đánh Lý Văn Đ1 nên cầm tuýp sắt chạy theo để giúp Lý Văn Đ1. Khi chạy cách quán K1 khoảng 100m, Lý Văn Đ1 chạy vào vườn keo ên phải đường nên nhóm T1 không đuổi k p. Lúc này, T1 nhìn thấy Tô Văn N1 đang ở phía sau chạy đến nên T1 hô lên “quay lại chém N” đồng thời chạy về phía Tô Văn N1. Khi nghe T1 hô như vậy, nhóm Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ, Nguyễn Văn L và Hồ Thế N chạy theo để cùng giúp T1 đánh Tô Văn N1. Lúc này, Tô Văn N1 quay đầu lại thì thấy Lê Quang H2 đang cầm 01 thanh kiếm dài khoảng 01m, N1 giật thanh kiếm trên tay H2 thì H2 không cho, H2 chuyển thanh kiếm sang tay còn lại nên Tô Văn N1 vứt cây tuýp sắt và dùng 02 tay vừa ôm người Hùng vừa giật lấy thanh kiếm trên tay của H2 thì H2 ỏ đi.
Khi Lý Anh T1 chạy đuổi đến chỗ của Tô Văn N1 ở tư thế đối diện, cách nhau khoảng 1,5m thì Tô Văn N1 cầm thanh kiếm dài khoảng 01m chém 01 nhát trúng vào đầu Lý Anh T1 gây thư ng tích, đồng thời Lý Anh T1 dùng tuýp sắt dài khoảng 01m một đầu có gắn dao đánh 01 nhát trúng vào đầu Tô Văn N1 nên cả hai ngã ra đường. Thấy Tô Văn N1 đã ngã nằm xuống đường, Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ và Hồ Thế N xông đến dùng tuýp sắt, gậy tre đánh nhiều cái vào người Tô Văn N1. au đó, được mọi người can ngăn, đưa Lý Anh T1 và Tô Văn N1 đi cấp cứu, điều tr tại ệnh viện Đ5 sau đó chuyển T1 đến ệnh viện Đ6 và Tô Văn N1 đến ệnh viện Đ7 để điều tr .
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường n i xảy ra vụ án được xác đ nh tại quán K1 thuộc thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk và khu vực đường L, cách quán K1 khoảng 100m. Quá trình khám nghiệm, hiện trường xáo trộn, phát hiện vùng chất màu nâu (nghi là máu) tại v trí Km10+810m, cách trụ điện số 287 2 6 là 09m, không thu giữ được đồ vật, hung khí liên quan. Đoạn đường từ quán K1 đến v trí phát hiện chất màu nâu (nghi là máu) là đoạn đường thẳng, ên trái đường có các trụ điện và trụ đèn đường cách nhau khoảng 25m, trên mỗi trụ có gắn óng đèn chiếu sáng loại óng Led 25W, cách mặt đất 4,5m hư ng ra lòng đường.
Đối v i vật chứng của vụ án là tuýp sắt, gậy tre, kiếm sau khi gây án các
cáo vứt ỏ tại hiện trường, C quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Tại ản kết luận giám đ nh pháp y thư ng tích số 1006 TgT-TT Y ngày 25 9 2020 của Trung tâm háp y tỉnh Đ, kết luận thư ng tích của Tô Văn N1 thể hiện:
- Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 35%.
- Tỷ lệ tổn thư ng c thể do từng thư ng tích gây nên hiện tại là: + hần mềm: Vết thư ng để lại sẹo vùng đỉnh h i chéo, lệch phải cách đường giữa 1cm, cách tai phải 13cm, cách chân tóc trán 4cm, phẳng gọn, kích thư c 5cm x 0,2cm, tỷ lệ 01%. Vết mổ để lại sẹo hình cung trán đỉnh thái dư ng phải, kích thư c 21cm x 0,5cm, tỷ lệ 02%. Vết dẫn lưu để lại sẹo vùng đỉnh phải, cách sẹo mổ 1,5cm, kích thư c 2cm x 0,5cm, tỷ lệ: 01%. Vết trầy sư c để lại sẹo vùng trán trái – đuôi mắt – gò má trái, trong khoảng kích thư c 7cm x 3cm, tỷ lệ 09%. + Xư ng: Nứt sọ trán trái, tỷ lệ 08%. Nứt sọ thái dư ng đỉnh phải, tỷ lệ 11%. + Các ộ phận c thể khác: Tụ máu ngoài màng cứng thái dư ng đỉnh phải đã ổn đ nh (không còn hình ảnh trên phim chụp), tỷ lệ 05%. Tụ máu ngoài màng cứng + tụ khí nội sọ trán trái số lượng ít, đã ổn đ nh (không còn hình ảnh trên phim chụp), tỷ lệ 05%
- Vật tác động: Vật tày cứng.
- C chế hình thành thư ng tích: Vết thư ng để lại sẹo vùng đỉnh h i chéo, lệch phải do vật tày cứng tác động trực tiếp gây nên có chiều hư ng từ trên xuống dư i, từ trư c ra sau và từ trái qua phải. Tổn thư ng làm nứt sọ thái dư ng đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng thái dư ng đỉnh phải do vật tày cứng tác động trực tiếp gây nên có chiều hư ng từ trên xuống dư i, từ trư c ra sau và từ phải qua trái. Tổn thư ng làm nứt sọ trán trái, tụ máu ngoài màng trán trái do vật tày cứng tác động trực tiếp gây nên có chiều hư ng từ trên xuống dư i, từ trư c ra sau và từ trái qua phải.
ẹo hình cung trán đỉnh thái dư ng phải và vết dẫn lưu để lại sẹo vùng đỉnh phải do quá trình phẫu thuật tạo nên.
Vết trầy xư c để lại sẹo vùng trán trái - đuôi mắt – gò má trái do va chạm trực tiếp v i vật tày diện rộng ề mặt không ằng phẳng theo c chế chà xát, mài mòn có chiều hư ng từ trên xuống dư i, từ trư c ra sau và từ trái qua phải.
Tại ản kết luận giám đ nh pháp y thư ng tích số 1005 TgT-TT Y ngày 23 9 2020 của Trung tâm háp y tỉnh Đ, kết luận về thư ng tích của Lý Anh T1 thể hiện: Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 39%.
Tại ản kết luận giám đ nh pháp y về thư ng tích ổ sung số 480 TgT-TT Y ngày 26 5 2022 của Trung tâm háp y tỉnh Đ, kết luận thư ng tích của Lý Anh T1 thể hiện: Tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể do thư ng tích sau khi tổng hợp các tỷ lệ phần trăm tổn thư ng c thể do từng thư ng tích là 34%.
Tại ản kết luận giám đ nh pháp y thư ng tích số 105 TgT-TT Y ngày 11 01 2021 của Trung tâm háp y tỉnh Đ, kết luận thư ng tích của Nguyễn Văn L, thể hiện: Tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên hiện tại là 8%.
Tại B n án h nh ự
h m
H - T ngà
c a T a án nhân dân nh Đ k L k q
ịnh:
Tuyên ố cáo Hồ Thế N phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của ộ luật hình sự.
Xử phạt cáo Hồ Thế N 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 10 năm 2023.
Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết đ nh về phần án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 18 3 2024, cáo Hồ Thế N kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 ộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của cáo, giữ nguyên ản án s thẩm về hình phạt.
Luật sư ào chữa cho cáo đề ngh Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho cáo, vì tại phiên toà phúc thẩm cáo thành khẩn khai áo, ố cáo có thời gian tham gia ộ đội.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xem xét ý kiến của Luật sư và quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cáo Hồ Thế N thừa nhận hành vi đồng phạm và tội danh như Tòa án cấp s thẩm quy kết, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt. [2] Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay, cáo thừa nhận hành vi đồng phạm v i các cáo khác trong vụ án nhưng không thừa nhận trực tiếp tấn công hại. cáo khai rằng sau khi ỏ chạy khỏi quán K1, đến gần ngã tư G thì trốn vào gốc cây Điều khoảng 10 đến 15 phút, sau đó quay lại quán K1, trên đường đi thì gặp à Mã Th Đ3 đang đi ộ, à Đ3 có tát và trách cáo không đưa Lý Anh T1 đi ệnh viện. Tuy nhiên, à Mã Th Đ3 khai khoảng 24 giờ ngày 17 8 2023, khi không thấy Lý Anh T1 về đã đi xe máy đến quán K1 để tìm. Đi được nửa đường thì gặp Lý Anh T1 - lúc này đã thư ng ở đầu nên kêu người đến giúp. Lúc này à Đ3 thấy Nam T4 (tức Hồ Thế N) chạy đến cùng T2 đưa T1 đi ệnh viện. Như vậy, thời điểm Hồ Thế N gặp à Mã Th Đ3 thì sự việc xô xát đã xảy ra xong. Lời khai của Lý Anh T1, Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ, Nguyễn Văn L
- đều là ạn của Hồ Thế N, lời khai của Lê Quang H2 - là người không có mâu thuẫn gì v i Hồ Thế N - đều xác đ nh nhìn thấy Hồ Thế N tham gia đuổi đánh Lý Văn Đ1, sau đó quay lại cùng Lý Anh T1 đánh nhiều cái vào người Tô Văn N1. Lời khai người hại Tô Văn N1 cũng xác đ nh trong lúc đuổi theo sau nhóm Lý Anh T1 để giúp Lý Văn Đ1, có thấy Hồ Thế N cùng tham gia đuổi đánh Lý Văn Đ1. Do đó, có đủ c sở để kết luận: Khoảng 0h30’ ngày 18 8 2020 tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Tô Văn N1 có hành vi dùng 01 con dao dài khoảng 01m chém vào đầu của Lý Anh T1 gây thư ng tích tỷ lệ 34%, Lý Anh T1 cũng dùng tuýp sắt dài khoảng 01m, đầu có gắn dao đánh 01 nhát trúng đầu Tô Văn N1. Khi Tô Văn N1 ngã xuống, Hồ Thế N cùng Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ, Nguyễn Văn L sử dụng tuýp sắt, gậy tre đánh vào đầu và người của Tô Văn N1. Tổng tỷ lệ tổn thư ng c thể của Tô Văn N1 là 35%. Mặc dù không có mâu thuẫn v i Tô Văn N1 nhưng cáo đã cố ý cùng v i Lý Anh T1 thực hiện hành vi phạm tội. cáo phải iết được rằng, việc cáo cùng các đối tượng Lý Anh T1, Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ, Nguyễn Văn L dùng tuýp sắt đầu có gắn dao, tuýp sắt, gậy tre đánh vào đầu và người của Tô Văn N1
- là những v trí trọng yếu trên c thể của người hại rất dễ dẫn đến hậu quả chết người nhưng cáo vẫn thực hiện. V i hành vi phạm tội đó, Tòa án cấp s thẩm đã xét xử cáo Hồ Thế N về tội “Giết người” v i tình tiết đ nh khung “Có tính chất côn đồ”, tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại điểm n khoản 1 Điều 123 của ộ luật hình sự, là có căn cứ và đúng pháp luật. [3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Hành vi của cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem nhẹ tính mạng, sức khỏe của người khác, sau khi phạm tội, mặc dù c quan điều tra đang tiến hành điều tra nhưng đã ỏ đi khỏi đ a phư ng, gây khó khăn cho công tác điều tra xử lý vụ án. Khi xét xử s thẩm, Tòa án cấp s thẩm đã xem xét áp dụng cho cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cáo đã đầu thú tại C quan cảnh sát điều tra - là tình tiết giảm nhẹ theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017.
cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên cần áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 ộ luật hình sự khi quyết đ nh hình phạt đối v i cáo. Từ đó, Tòa án cấp s thẩm xử phạt cáo 12 năm tù là tư ng xứng v i tính chất hành vi, hậu quả của vụ án.
[4] Về ý kiến của Luật sư đề ngh xem xét giảm hình phạt cho cáo, vì trong giai đoạn phúc thẩm cáo đã nhận thức được và đã thừa nhận hành vi đồng phạm trong vụ án này. Xét thấy, tại phiên toà phúc thẩm cáo thừa nhận có cùng tham gia v i các cáo khác trong vụ án, cùng ch u trách nhiệm đồng phạm nhưng cáo không thừa nhận hành vi tấn công hại trong khi đó lời khai của các cáo khác, của hại thể hiện cáo Hồ Thế N cùng v i các cáo khác dùng hung khí tấn công hại Tô Văn N1. Do đó, thấy cáo chưa thực sự thành khẩn. Mặt khác, sau khi thực hiện hành vi, cáo ỏ trốn gây khó khăn trở ngại cho công tác điều tra, xử lý của c quan tiến hành tố tụng cấp s thẩm.
Từ những phân tích, lập luận trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy Toà án cấp s thẩm đã xét xử vụ án có căn cứ và đúng pháp luật; kháng cáo xin giảm hình phạt của cáo không có c sở; cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào m i nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên ản án s thẩm về hình phạt.
[5] Đối v i hành vi phạm tội của Lý Anh T1, Tô Văn N1, Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ, Nguyễn Văn L; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã được xử lý tại ản án hình sự s thẩm số 25 2024 H - T ngày 15 3 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk nên không xem xét giải quyết.
Về án phí phúc thẩm hình sự: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
cáo Hồ Thế N phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm không kháng cáo kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng ngh .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 ộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của cáo Hồ Thế N (tên gọi khác: N), giữ nguyên ản án s thẩm.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của ộ luật hình sự.
Xử phạt cáo Hồ Thế N 12 (Mười hai) năm tù, về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 10 năm 2023.
[2] Về án phí phúc thẩm hình sự: Áp dụng điểm khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326 2016 U TVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội.
cáo Hồ Thế N phải ch u 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết đ nh khác của ản án s thẩm không kháng cáo kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng ngh .
ản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VK ND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - C quan C ĐT-Công an tỉnh Đắk Lắk; - hòng H NV-Công an tỉnh Đắk Lắk; - C quan C THAH -CA tỉnh Đắk Lắk; - ở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Cục THAD tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu H VA, HCT , LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ng ễn Cường |