vanban.org

Bản án 240/2024/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 21/06/2024 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí hành chính phúc thẩm ngƣời kháng cáo là bà Hồ Thị Thanh S đƣợc miễn nộp, hoàn trả cho bà Hồ Thị Thanh S số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.

Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án. Vụ III-TAND tối cao; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: bà Hồ Thị Thanh S, sinh năm 1964; địa chỉ: Số B đường T, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên"
  • Tòa quyết gì? Về án phí hành chính phúc thẩm ngƣời kháng cáo là bà Hồ Thị Thanh S đƣợc miễn nộp, hoàn trả cho bà Hồ Thị Thanh S số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 242 Luật Tố tụng hành chính; Điều 35 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 240/2024/HC-PT
Ngày: 21 - 06 - 2024
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành
chính,trong lĩnh vực quản lý trật tự đô thị
và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Long.

- Các Thẩm phán: ông Phạm Tồn và ông Võ Ngọc Thông.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Phong - Thƣ ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 72/2024/TLPT-HC ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Khởi kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý trật tự đô thị và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2024/HC-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 876/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đƣơng sự:

1- Người khởi kiện: bà Hồ Thị Thanh S, sinh năm 1964; địa chỉ: Số B đƣờng T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

2- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố T, tỉnh Phú Yên; ngƣời đại diện là ông Cao Đình H, Chủ tịch UBND, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố T: Ông Nguyễn Văn N– Phó trƣởng phòng Quản lý đô thị thành phố T; có mặt.

+ Ủy ban nhân dân phƣờng A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; ngƣời đại diện theo ủy quyền có ông Trƣơng Trần Hoàng N1, Phó Chủ tịch UBND phƣờng, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND phƣờng A: Ông Bùi Ngọc T – công chức tƣ pháp và ông Trần Quốc N2 – Công chức địa chính phƣờng A, thành phố T; có đơn xin xét xử vắng mặt.

3- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Phòng quản lý đô thị thành phố T: ông Nguyễn Khoa K – Trƣởng Phòng Quản lý đô thị thành phố T; có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Võ Hoàng T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: H L, phƣờng A, TP ., tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Lê Quý Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố D, phƣờng P, TP ., tỉnh Phú Yên (Nơi công tác: Trung tâm cung ứng dịch vụ công ích thành phố T; địa chỉ: A L, phƣờng A, thành phố T); có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Phạm Minh P, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B đƣờng L, Phƣờng A, TP ., tỉnh Phú Yên (Nơi công tác: UBND phƣờng A, TP . – Phó Bí thƣ đoàn thanh niên); có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Trƣơng Trần Hoàng N1, sinh năm 1991; địa chỉ: 7 L, phƣờng A, TP ., tỉnh Phú Yên Yên; có mặt.

+ Ông Lý Công N3, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số D đƣờng M, phƣờng E, TP ., tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Người kháng cáo: bà Hồ Thị Thanh S, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Nội dung vụ án đƣợc tóm tắt theo trình bày của các đƣơng sự:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người khởi kiện bà Hồ Thị Thanh S trình bày

Bà Hồ Thị Thanh S nhận đƣợc Giấy mời ngày 16/5/2017 của UBND phƣờng A, với nội dung: Mời bà Hồ Thị Thanh S, đúng 08 giờ ngày 17/5/2017 đến UBND phƣờng A để nhận lại phƣơng tiện đang đƣợc giữ tại UBND phƣờng A, gồm: 01 biển hiệu và 01 bục sắt do Đội kiểm tra liên ngành thành phố tháo dỡ vào tháng 3/2017, nhƣng bà S không đến UBND phƣờng A làm việc theo giấy mời (BL 63,64).

Bà S khởi kiện ông Võ Hoàng T1 là cán bộ trật tự đô thị của UBND phƣờng A, thành phố T ra Tòa án; vì ông T1 đến nhà bà Hồ Thị Thanh S, địa chỉ số B T, thành phố T, tỉnh Phú Yên tháo, gỡ 01 biển hiệu ghi tên THANH SƢƠNG dạng hình chữ nhật, kích thƣớc cao khoảng 1,2m – 1,3m, rộng khoảng 0,8mvà 01 bục dắt xe (bục sắt) có kích thƣớc dài khoảng 2,5m, cao 0,8m, rộng 0,6m để ngay trên vỉa hè trƣớc nhà của Bà tại số nhà B T, phƣờng A, thành phố T.

Bà Hồ Thị Thanh S khởi kiện tuyên bố hành vi tạm giữ tang vật vi phạm hành chính là trái pháp luật; Buộc UBND phƣờng A và ông Võ Hoàng T1 phải trả lại cho Bà 01 bục dắt xe mới (bục sắt) và 01 biển hiệu mới tại vị trí trƣớc khi tháo gỡ, tạm giữ;yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với ông Võ Hoàng T1 theo quy định của pháp luật; yêu cầu ông T1 phải công khai xin lỗi Bà trên phƣơng tiện thông tin đại chúng.

Bà Hồ Thị Thanh S không khởi kiện đối với Ủy ban nhân dân thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) thành phố T, bà S không đồng ý TAND tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm vụ án này.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà S bổ sung yêu cầu khởi kiện buộc UBND phƣờng A và ông Võ Hoàng T1 phải bồi thƣờng khoản tiền mất thu nhập trong thời gian Bà đến Tòa án làm việc về vụ kiện này.

- Người bị kiện U trình bày tại Văn bản số 5224/UBND ngày 01/12/2021 (BL 135):

Qua hồ sơ lƣu trữ, Biên bản tạm giữ vi phạm hành chính trên lĩnh vực TTATGT đƣợc UBND phƣờng A lập ngày 15/3/2017 trong quá trình phối hợp với Phòng Quản lý đô thị kiểm tra công tác trật tự an toàn giaothông trên địa bàn phƣờng A, không thuộc nội dung kiểm tra tại Kế hoạch số 352/KH-KTLN ngày 09/3/2017 của Đội kiểm tra liên ngành thành phố. Do vậy, việc khởi kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đô thị của bà Hồ Thị Thanh S đối với UBND thành phố là không có căn cứ, đề nghị TAND tỉnh Phú Yên đình chỉ giải quyết vụ án.

- Ủy ban nhân dân phƣờng A trình bày (BL 81):

Ông Võ Hoàng T1 tham gia đoàn công tác ngày 15/3/2017 theo sự phân công của lãnh đạo UBND phƣờng A bằng văn bản vì ông T1 là cán bộ hợp đồng về trật tự đô thị của UBND phƣờng A. Thông qua công tác quản lý của địa phƣơng, lãnh đạo phân công công việc thƣờng xuyên cho ông T1 quản lý về trật tự đô thị của phƣờng 1 thông qua hợp đồng hai bên ký kết. Chiều tối ngày 15/3/2017, khi tiến hành kiểm tra TTATGT theo kế hoạch thì bà Hồ Thị Thanh S có hành vi vi phạm TTATGT theo quy định tại điểm b, khoản 4, điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ nên đã thu giữ của bà S, gồm: 01 bục dắt xe và 01 bảng hiệu, có lập biên bản tạm giữ tang vật vi phạm hành chính.Vì vậy, UBND phƣờng A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà S, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Phòng Quản lý đô thị thành phố T trình bày:Thống nhất ý kiến của U. Đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Ông Lê Quý Đ trình bày (BL 81):Chiều tối ngày 15/3/2017, đoàn công tác liên ngành tiến hành kiểm tra công tác trật tự đô thị trên địa bàn phƣờng A. Qua kiểm tra, phát hiện tại số nhà B T, phƣờng A (do bà Hồ Thị Thanh S làm chủ hộ) có lắp dựng 01 bục bệ lên xuống bằng sắt (có hình ảnh kèm theo trƣớc khi lực lƣợng liên ngành tiến hành tháo dỡ), Trƣởng Đoàn công tác là ông Lý Công N3 chỉ đạo tháo dỡ 01 bục lên xuống bằng sắt và 01 bảng hiệu đƣa về trụ sở UBND phƣờng 1 tạm giữ và xử lý theo quy định thì bà S la ó, lớn tiếng. Sau đó, UBND phƣờng 1 mời bà Thanh S làm việc nhƣ thế nào thì ông không rõ.

- Ông Trƣơng Trần Hoàng N1, ông Phạm Minh P đều thống nhấttrình bày (BL 87, 88): Khoảng 18 giờ ngày 15/3/2017, UBND phƣờng A chỉ đạo Đội TTĐT phƣờng phối hợp với Đội liên ngành của UBND thành phố T kiểm tra trật tự đô thị, vỉa hè trên địa bàn phƣờng A.Phát hiện tại vỉa hè số nhà B T phƣờng A (do bà Hồ Thị Thanh S làm chủ hộ) có đặt 01 bục bệ lên xuống bằng sắt và bảng quảng cáo trái phép nên đã tiến hành tháo gỡ và đƣa về phƣờng 1 lập biên bản, chờ xử lý theo quy định.

- Ông Lý Công N3 trình bày (BL 121 – 122):Tại thời điểm tháng 3/2017, tôi (N3) là Phó Trƣởng Phòng Quản lý đô thị thành phố T, Đội trƣởng Đội Kiểm tra liên ngành thành phố T về công tác trật tự đô thị (TTĐT). Ngày 15/3/2017, thực hiện Kế hoạch “Triển khai ra quân lập lại TTĐT, TTXD và vệ sinh môi trƣờng trên địa bàn thành phố T”, vào lúc khoảng 18 giờ ngày 15/3/2017, trên địa bàn phƣờng A, Đội Kiểm tra liên ngành (KTLN) phát hiện tại số nhà B T (do bà Hồ Thị Thanh S làm chủ hộ) đặt 01 bục bệ bằng sắt trên vỉa hè và treo bảng hiệu quảng cáo sai quy định. Đội KTLN làm việc với mục đích vận động hộ dân tự tháo dỡ, nhƣng không có chủ hộ nên UBND phƣờng A lập biên bản tạm giữ tang vật vào lúc 18 giờ 20 phút cùng ngày và UBND phƣờng A tạm giữ tang vật. Tôi đã chỉ đạo Đội KTLN tháo gỡ bục bệ và bảng quảng cáo sai quy định đƣa về UBND phƣờng 1 tạm giữ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

- Ông Võ Hoàng T1 trình bày (BL 26):Thực hiện Kế hoạch số 352/KH-KTLN ngày 09/3/2017 của Đội kiểm tra liên ngành thành phố T về việc kiểm tra trật tự đô thị, vệ sinh môi trƣờng và mỹ quan đƣờng P. Vào tối ngày 15/3/2017, kiểm tra tuyến đƣờng T, tại số nhà B T (do bà S làm chủ hộ) có xây lắp 01 bục lên xuống bằng sắt nên ông Lý Công N3 chỉ đạo tháo gỡ, tạm giữ (có quay phim, ghi hình) đƣa về UBND phƣờng 1, mời bà S đến giải quyết nhƣng bà S không hợp tác.

[2] Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2024/HC-ST ngày 12-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Căn cứ Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Áp dụng:

- Điều 38 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

- Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, ngày 19/7/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

- Khoản 3 Điều 8; Điểm e khoản 2 Điều 35; Khoản 1, Điều 36; điểm a, c khoản 3 Điều 36 Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008;

- Điểm b, khoản 4, Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ và đƣờng sắt.

Tuyên xử:

1/ Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngƣời khởi kiện bà Hồ Thị Thanh S về các yêu cầu:

+ Tuyên bố hành vi tạm giữ tang vật (theo Biên bản tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trên lĩnh vực TTATGT ngày 15/3/2017) trái pháp luật.

+ Yêu cầu Ủy ban nhân dân phƣờng A và ông Võ Hoàng T1 phải trả tài sản tại vị trí trƣớc khi tạm giữ, gồm: 01 bục dắt xe mới (bằng sắt) có kích thƣớc dài 2,5m, cao 0,8m, rộng 0,6m và 01 Biển hiệu quảng cáo mới ghi tên THANH SƢƠNG có kích thƣớc cao 1,2m – 1,3m, rộng 0,8m cho bà Hồ Thị Thanh S; Vì không có căn cứ pháp luật.

2/ Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu khởi kiện của bà S về việc:

+ Yêu cầu xử lý trách nhiệm đối với ông Võ Hoàng T1 theo quy định của pháp luật;

+ Yêu cầu ông Võ Hoàng T1 phải công khai xin lỗi bà Hồ Thị Thanh S trên phƣơng tiện thông tin đại chúng vì ông T1 đã có hành vi tự ý thu giữ 01 bục dắt xe bằng sắt và 01 bảng hiệu quảng cáo THANH SƢƠNG trái pháp luật;

Vì không thuộc đối tƣợng khởi kiện vụ án hành chính.

3/ Đối với yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại về tài sản do mất thu nhập trong thời gian đến Tòa án làm việc về vụ kiện: Bà Hồ Thị Thanh S có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[3] Kháng cáo:

Ngày 27-03-2023 bà Hồ Thị Thanh S kháng cáo bản án sơ thẩm

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Hồ Thị Thanh S giữ nguyên kháng cáo, đề nghị chấp nhận khởi kiện của Bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thƣ ký Tòa án và những ngƣời tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Bác đơn kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về đối tượng khởi kiện:

Ngày 26/5/2017,bà Hồ Thị Thanh S có đơn khởi kiện hành vi hành chính đối với cán bộ công chức địa chính phƣờng A (BL 61); Ngày 16/10/2017, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa thụ lý vụ án (BL 48); Ngày 30/9/2021,Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa ra Quyết định số 03/2021/QĐST-HC đình chỉ xét xử và chuyển hồ sơ vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (BL 129 - 133); Ngày 13/10/2021,Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý, giải quyết là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

Kế hoạch số 352/KH-KTLN ngày 09/3/2017 của Đội kiểm tra liên ngành thành phố T có nội dung “Ngoài thời gian kiểm tra theo lịch, Đội kiểm tra liên ngành sẽ kiểm tra đột xuất các điểm tái lấn chiếm theo nội dung kế hoạch mà không phải báo trước”. Ông Lý Công N3 - Đội trƣởng Đội kiểm tra liên ngành là ngƣời chỉ đạo việc tháo, gỡ bục sắt, biển hiệu, đƣa lên xecông vụ của Đội kiểm tra liên ngành chở về trụ sở UBND phƣờng 1để giải quyết. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 02/2011 ngày 29/11/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì ngƣời thi hành công vụ theo Kế hoạch của UBND thành phố là Đội Kiểm tra liên ngành thành phố; ông Võ Hoàng T1 là ngƣời đƣợc UBND phƣờng A giao thực hiện nhiệm vụ trật tự đô thị của Phƣờng A và phối hợp Đội Kiểm tra liên ngành thi hành công vụ, việc tháo gỡ bục sắt, biển hiệu theo sự chỉ đạo của Đội Trƣởng Đội kiểm tra liên ngành, nên xác định ngƣời bị kiện là UBND thành phố T và A .

Xem xét tính hợp lý và có căn cứ của các quyết định hành chính và hành vi hành chính bị khởi kiện:

Vào chiều tối ngày 15/3/2017, Đội Kiểm tra liên ngành thành phố T, UBND phƣờng 1 phát hiện tại vỉa hè trƣớc số nhà B T, phƣờng A (do bà Hồ Thị Thanh S làm chủ hộ) có đặt 01 bục bệ lên xuống bằng sắt và 01 biển hiệu THANH SƢƠNG trái phép nên đã tháo gỡ và đƣa về UBND phƣờng 1, sau đó mời bà S đến UBND phƣờng 1 để làm việc giải quyết nhƣng bà S không hợp tác.

Theo điểm e khoản 2 Điều 35 Luật giao thông đƣờng bộ quy định không đƣợc thực hiện các hành vi sau đây: “Lắp đặt biển hiệu, biển quảng cáo hoặc thiết bị khác…hoặc gây cản trở người tham gia giao thông”; tại khoản 1 Điều 36 “Lòng đường và hè phố chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông”; tại điểm a, c khoản 3 Điều 36 “Các hành vi quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này; xây, đặt bục, bệ trái phép trên đường” và khoản 3 Điều 8 Luật Giao thông đƣờng bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm “Sử dụng lòng đường, lề đường, hè phố trái phép”.

Xem bản ảnh chụp tại hiện trƣờng khi Đội Kiểm tra liên ngành tiến hành thu giữ 01 bục sắt và 01 biển hiệu đƣợc bà S thừa nhận (BL 60) và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án,thì xác định bà Hồ Thị Thanh S có hành vi lắp đặt 01 bục lên xuống bằng sắt và treo 01 biển hiệu quảng cáo trái phép trên hè phố (vỉa hè) tại số nhà B T, phƣờng A thành phố T, làm ảnh hƣởng đến mỹ quan đƣờng phố và gây cản trở ngƣời tham gia giao thông. Do đó, vào lúc khoảng 18 giờ ngày 15/3/2017, Đội Kiểm tra liên ngành thành phố T và UBND phƣờng A tiến hành tháo gỡ, lập Biên bản tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông (TTATGT) chở về trụ sở UBND phƣờng A để xử lý (BL 40). Nhƣ vậy, hành vi nêu trên của bà Hồ Thị Thanh S đã vi phạm quy định tại điểm b, khoản 4, điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ và đƣờng sắt.

Đội kiểm tra liên ngành thu giữ 01 bục lên xuống bằng sắt và 01 biển hiệu quảng cáo trái phép của bà S là đúng phạm vi thi hành nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đúng ra, sau khi Đội kiểm tra liên ngành tiến hành thu giữ tang vật, phƣơng tiện vi phạm hành chính thì Cơ quan, ngƣời có thẩm quyền thực hiện xử lý vi phạm hành chính đối với bà S. Tuy nhiên, ngƣời có thẩm quyền thực thi công vụ đƣợc quy định tại Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 71 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ chƣa tiến hành xử lý vi phạm hành chính đối với bà S, mà mời bà S đến làm việc nhận lại tang vật, phƣơng tiện là thể hiện sự nhắc nhỡ, khoan hồng của Cơ quan, ngƣời có thẩm quyền trong xử lý hành vi vi phạm.

Từ các căn cứ trên, Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện tuyên bố hành vi tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trái pháp luật và yêu cầu trả lại tài sản (01 bục lên xuống bằng sắt mới và 01 biển hiệu quảng cáo THANH SƢƠNG mới) do bị thu giữ trái pháp luật là có căn cứ; kháng cáo về nội dung này không đƣợc HĐXX phúc thẩm chấp nhận.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà S về yêu cầu UBND phƣờng A và ông Võ Hoàng T1 phải liên đới bồi thƣờng thiệt hại về tài sản đối với khoản tiền mất thu nhập trong thời gian đến Tòa án làm việc liên quan đến vụ kiện. Nội dung khởi kiện này đƣợc bà S bổ sung tại phiên tòa sơ thẩm và bà S chƣa cung cấp đƣợc tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, cũng nhƣ bà S chƣa xác định đƣợc số tiền thiệt hại. Do đó, bản án sơ thẩm căn cứ Điều 35 Luật Tố tụng hành chính, đã quyết định tách vụ án, dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Từ những nhận định trên và xem xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà Hồ Thị Thanh S, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm.

Về án phí hành chính phúc thẩm: kháng cáo không đƣợc chấp nhận nên bà S phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, nhƣng đến thời điểm xét xử phúc thẩm là ngƣời cao tuổi, có đơn xin miễn nên đƣợc miễn nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật Tố tụng hành chính, Bác kháng cáo của bà Hồ Thị Thanh S, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2024/HC-ST ngày 12-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

2. Về án phí hành chính phúc thẩm ngƣời kháng cáo là bà Hồ Thị Thanh S đƣợc miễn nộp, hoàn trả cho bà Hồ Thị Thanh S số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000423 ngày 21-4-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ