vanban.org

Bản án 240/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 240/2023/HS-ST
Ngày 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Cần

Ông Huỳnh Sơn Tây

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 229/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh C, sinh năm 1984, tại Bình Dương; nơi cư trú: tổ C, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Vũ Thị Ngọc S, có vợ là Nguyễn Thị Mỹ X (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2012; tiền sự: không;

Tiền án: Năm 2019, bị TAND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án sơ thẩm số 127/2019/HS-ST ngày 16/9/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2020, đóng án phí ngày 25/9/2023.

Nhân thân:

1. Năm 2003, bị Toà Phúc thẩm TAND Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản, theo Bản án số 2473/HSPT ngày 15/12/2003.

2. Năm 2007, bị Chủ tịch UBND tỉnh B quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi Gây rối trật tự công cộng, theo Quyết định số 548/QĐ-UBND ngày 06/02/2007;

3. Năm 2014, bị Công an phường U, thị xã T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản;

4. Năm 2023, bị TAND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cai nghiện bắt buộc với thời hạn 19 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý, theo Quyết định số 06/QĐ-TA ngày 06/3/2023.

Bị cáo hiện đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Bình Dương; (có mặt)

- Bị hại:

1. Bà Lâm Thị T, sinh năm 1982; (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1982. (có mặt)

Cùng nơi cư trú: tổ C, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh C và ông Nguyễn Minh H có mối quan hệ là anh em ruột. Bà Lâm Thị T là vợ của ông H.

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/01/2023, C đang ở nhà do không có tiền tiêu xài nên C đi qua nhà của vợ chồng ông H và bà T tìm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. C đi vào bên trong phòng ngủ của vợ chồng ông H, bà T tìm trong tủ đựng quần áo của bà T và phát hiện bên trong túi quần có 01 bịch ny lon chứa 01 cái lắc vàng và 02 chiếc vòng vàng nên C cất vào túi quần. Sau khi lấy trộm được tài sản, C đến tiệm V thuộc khu phố E, phường U, thành phố T cầm cố với số tiền 16.000.000 đồng. Ngày 19/01/2023, C tiếp tục đến tiệm V bán số vàng đã cầm cố thêm số tiền 1.000.000 đồng. Đến ngày 20/01/2023, bà T kiểm tra phát hiện vàng bị mất nên nói cho ông H biết. Ngày 02/02/2023, ông H gặp C hỏi có lấy tài sản của bà T không thì C khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bà T. Cùng ngày, bà T đến Công an phường U trình báo việc mất tài sản. Công an phường U mời C về trụ sở làm việc, qua làm việc C khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bà T và ông H. Công an phường U lập hồ sơ ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T (nay là thành phố T) thụ lý theo thẩm quyền.

Qua làm việc với bà Lý Thị Mỹ X1 là chủ tiệm vàng Huỳnh Hoa A khai: Bà X1 không xác định được Nguyễn Minh C có đến tiệm V để cầm cố sau đó bán hay không, dữ liệu camera không còn ghi nhận ngày mà C đến cầm cố và bán vàng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) kết luận: 01 chiếc lắc kim loại màu vàng, loại vàng 61% (vàng 18) có trọng lượng 4,028 chỉ có giá trị 14.098.000 đồng và 02 chiếc vòng kim loại màu vàng, loại vàng 61% (vàng 18) có trọng lượng 1.905 chỉ có giá trị 6.667.500 đồng. Tổng giá trị 20.765.500 đồng. Về trách nhiệm dân sự: Bà Lâm Thị T và ông Nguyễn Minh H không yêu cầu Nguyễn Minh C bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 229/CT-VKSTU ngày 31 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về việc tham gia phiên tòa của những người tham gia tố tụng: Bị hại bà Lâm Thị T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Quá trình điều tra, bà T đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/01/2023, tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Minh C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc lắc kim loại màu vàng, loại vàng 61% (vàng 18) có trọng lượng 4,028 chỉ và 02 chiếc vòng kim loại màu vàng, loại vàng 61% (vàng 18) có trọng lượng 1,905 chỉ của bà Lâm Thị T, ông Nguyễn Minh H, có tổng giá trị là 20.765.500 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, tham lam nên đã cố ý phạm tội. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, nhận thấy chỉ vì sự tư lợi, tham lam, để có tiền sử dụng, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo đã từng bị xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành hình phạt lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ sự coi thường, bất chấp pháp luật. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh C phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ