vanban.org

Bản án 240/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác nhận cha, mẹ con"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 240 /2021/HNGĐ-ST
Ngày 05 tháng 5 năm 2021
V/v “Tranh chấp xác định cha mẹ cho con””

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Uông Thị Hoa 2. Bà Nguyễn Thị Thụy.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy-Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: bà Vũ Thu Trang - Kiểm sát viên. Ngày 05 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 173/TLST- HNGĐ ngày 01/4/2021 về tranh chấp xác nhận cha, mẹ cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/QĐXX-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021 giữa: Nguyên đơn: Anh Đỗ Duy T, sinh năm: 1969 HKTT và nơi ở: Số 66 Đ, phường B, quận H, thành phố H. Bị đơn: Chị Lê Ánh T, sinh năm 1973 HKTT và nơi ở: Số 16 ngõ 285 phố Đ, phường L, quận B, thành phố H. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Duy H - sinh năm 1968 Địa chỉ: Số nhà 26, ngõ 370 phố T, phường B, quận T, thành phố H.

( Anh T, chị T có mặt, anh H vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 3 năm 2021 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là anh Đỗ Duy T trình bày: Năm 2010 anh và chị Lê Ánh T quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau, rồi duy trì mối quan hệ này đến năm 2012 chị T có thai. Ngày 24/12/2012 chị T có sinh một bé trai tại Bệnh Viện phụ sản Hà Nội. Thời điểm đó Bệnh viện có cấp cho chị T Giấy chứng sinh số 91, quyển số 174 ngày 24/12/2012. Anh đặt tên cho cháu là Đỗ Duy P. Nay anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình xác định anh là cha đẻ của cháu P và chị T là mẹ đẻ của cháu P. Anh đã đề nghị Tòa án cho anh, chị T và cháu P đi giám định ADN để giải quyết vụ án. Nay căn cứ vào kết luận giám định ADN anh đề nghị Tòa án xác định anh-Đỗ Duy T là cha đẻ của cháu Đỗ Duy P và chị Lê Ánh T là mẹ đẻ của cháu Đỗ Duy P để anh đi làm giấy khai sinh cho cháu P. Chị Lê Ánh T trình bày: Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T về việc xin xác nhận cháu P là con của chị và anh T. Chị thừa nhận chị và anh T có quan hệ tình cảm với nhau nH việc anh T cho rằng cháu P là con đẻ của chị và anh T thì chưa có căn cứ vững chắc. Tuy nhiên, Tòa án đã trưng cầu giám định ADN giữa chị, anh T và cháu P và căn cứ vào kết luận giám định của Trung tâm phân tích ADN và Công nghệ di truyền kết luận cháu Đỗ Duy P là con của chị và anh T là cha đẻ của cháu P, chị đồng ý với kết luận này, đề nghị Tòa án căn cứ vào kết luận giám định để giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh Phạm Duy H trình bày: Anh là chồng của chị Lê Ánh T, sau khi kết hôn anh và chị T chung sống đến năm 2010 bắt đầu có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, anh và chị T đã chia tay và sống ly thân hơn 10 năm nay, chị T chuyển đi đâu anh không biết và cũng không liên lạc, Chị T sống cùng ai, có quan hệ tình cảm với ai anh cũng không biết. Nay anh Đỗ Duy T khởi kiện chị T yêu cầu xác định cháu Đỗ Duy P, sinh năm 2012 là con của anh T và chị T. Anh xác nhận anh không phải là cha đẻ của cháu Đỗ Duy P, sinh năm 2012. Anh và chị T đã chia tay nhau từ năm 2010, không liên lạc, không có quan hệ tình cảm nữa. Việc cha, mẹ đẻ của cháu P là ai, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh hoàn toàn không liên quan gì đến việc này. Hiện nay chị T đang giữ đăng ký kết hôn của anh và chị T, nay anh yêu cầu chị T thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho anh. Anh xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc cũng như phiên tòa xét xử của Tòa án. Anh không có liên quan gì nên đề nghị Tòa án không báo, không gửi giấy mời cho anh đến Tòa án làm việc nữa.

Tại phiên tòa: Anh T và chị T vẫn giữ yêu cầu như đã trình bày. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định anh T và chị T là cha mẹ đẻ của cháu P, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin xác nhận cha mẹ cho con của anh T chị T. Về án phí: Anh T được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Anh Phạm Duy H xin vắng mặt, căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H. [2]. Về nội dung: Xét yêu cầu xin xác nhận cha mẹ cho con của anh Đỗ Duy T, nhận thấy: Anh Đỗ Duy T và chị Lê Ánh T có tình cảm với nhau và ngày 24/12/2012 chị T có sinh một bé trai tại Bệnh Viện phụ sản Hà Nội và được Bệnh viện cấp Giấy chứng sinh số 91, quyển số 174 ngày 24/12/2012, nH anh chị chưa đi làm khai sinh cho con. Anh T, chị T tạm đặt tên cho con là Đỗ Duy P. Nay anh T đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu P và chị T là mẹ đẻ của cháu P. Chị T thừa nhận chị và anh T có quan hệ tình cảm với nhau nH việc anh T cho rằng cháu P là con đẻ của chị và anh T thì chưa có căn cứ vững chắc. Anh Phạm Duy H trình bày anh không phải là cha đẻ của cháu P và anh xin được vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã có quyết định trưng cầu giám định ADN giữa chị T, anh T và cháu P. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Trung tâm phân tích ADN và Công nghệ di truyền kết luận: Anh Đỗ Duy T là cha của cháu Đỗ Duy P. Chị Lê Ánh T là mẹ của cháu Đỗ Duy P. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh T về việc xin xác nhận cha mẹ cho con. Xác nhận anh Đỗ Duy T là cha đẻ của cháu bé trai có tên tạm gọi là Đỗ Duy P, sinh ngày 24/12/2012. Chị Lê Ánh T là mẹ đẻ của cháu bé trai có tên tạm gọi là Đỗ Duy P, sinh ngày 24/12/2012. Anh Đỗ Duy T và chị Lê Ánh T có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục khai sinh cho cháu bé trai có tên tạm gọi là Đỗ Duy P, sinh ngày 24/12/2012. Về án phí: Anh T được miễn án phí sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Anh T, chị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng Điều 28; điều 144; điều 147; Điều 227; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử: 1, Chấp nhận đơn yêu cầu xác nhận cha, mẹ cho con của anh Đỗ Duy T. 2, Xác nhận anh Đỗ Duy T là cha đẻ của cháu bé trai có tên tạm gọi là Đỗ Duy P, sinh ngày 24/12/2012. Xác nhận chị Lê Ánh T là mẹ đẻ của cháu bé trai có tên tạm gọi là Đỗ Duy P, sinh ngày 24/12/2012. Anh Đỗ Duy T và chị Lê Ánh T có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục khai sinh cho cháu bé trai có tên tạm gọi là Đỗ Duy P, sinh ngày 24/12/2012. Về án phí: Anh Đỗ Duy T được miễn án phí sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Anh T, chị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ