vanban.org

Bản án 240/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Lục Thị P ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung cháu Nguyễn Huỳnh Quốc B, sinh ngày 08/6/2017 cho chị Huỳnh Lục Thị P được trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị P xin ly hôn a Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Lục Thị P ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. QUY NHƠN - T. BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 240/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 4 - 2020
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Huy Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoàng Long

2. Ông Hồ Đắc Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn.

- Đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1106/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/3/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Lục Thị P - sinh năm: 1997

Trú tại: Tổ 2A, KV1, Phường Đ, thành phố QN.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Q - sinh năm: 1972

Trú tại: 451 Bạch Đằng, thành phố QN.

(Chị P có mặt, anh Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/11/2019 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Huỳnh Lục Thị P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ngọc Q tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường Đ, TP. QN, tỉnh BĐ vào ngày 23/9/2016. Trước khi kết hôn, anh Q đã từng lấy vợ và đã ly hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q sống không chăm lo cho vợ con, bỏ bê vợ con khi đau bệnh. Chị và gia đình đã khuyên can nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Chị đã từng 02 lần nộp đơn đến Tòa để xin ly hôn, được Tòa án tiến hành hòa giải, động viên, chị tự nguyện rút đơn để tạo cơ hội cho anh Q thay đổi. Tuy nhiên sau khi đoàn tụ, anh Q vẫn không thay đổi, cuộc sống vợ chồng nặng nề, gây mất niềm tin, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q. Về con chung, chị và anh Q có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Quốc B, sinh ngày 08/6/2017. Hiện nay cháu Bảo đang sống với chị, sức khỏe tốt. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết. Vợ chồng không nợ chung ai, không ai nợ chung vợ chồng.

* Bị đơn anh Nguyễn Ngọc Q:

Tại phiên tòa hôm nay, anh Q vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, theo bản khai ngày 09/12/2019, anh Q công nhận thời gian tìm hiểu và điều kiện kết hôn như chị P đã trình bày. Theo anh, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm. Mặc dù, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay nhưng anh vẫn còn thương chị P nên anh không đồng ý ly hôn. Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung như chị P trình bày, nếu ly hôn anh tự nguyện giao cháu Nguyễn Huỳnh Quốc B cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng; Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật HNGĐ 2014: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Lục Thị P về việc xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q, giao cháu B cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án (điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự).

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào nội dung tranh chấp của các đương sự, HĐXX xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” (khoản 1 Điều 28 BLTTDS), thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn (điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS).

Về nội dung tranh chấp:

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Lục Thị P và anh Nguyễn Ngọc Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường Đ, thành phố QN, tỉnh BĐ vào ngày 23/9/2016, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa chị P và anh Q đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là do anh Q sống không có trách nhiệm với vợ, con. Mặc dù, anh Q không đồng ý ly hôn, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q không đến Tòa để hòa giải. Điều này chứng tỏ anh Q không có thiện chí muốn hòa hợp. Đây cũng là trường hợp bị đơn cố tình lẫn tránh, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. HĐXX xét: Hôn nhân của chị P, anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị P là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Quốc B, sinh ngày 08/6/2017. HĐXX xét: hiện nay cháu B đang sống với chị P và được đảm bảo tốt về mọi mặt. Tại bản khai ngày 09/12/2019, anh Q cũng tự nguyện giao cháu B cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận nguyện vọng của chị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu B. Chị P không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: Chị P không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác nếu có yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Chị P phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Lục Thị P ly hôn anh Nguyễn Ngọc Q.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung cháu Nguyễn Huỳnh Quốc B, sinh ngày 08/6/2017 cho chị Huỳnh Lục Thị P được trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Chị Huỳnh Lục Thị P không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc Q cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Chị P, anh Q không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Lục Thị P phải chịu 300.000đ án phí, nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002288 ngày 04/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn. Chị P đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ