vanban.org

Bản án 240/2017/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H ph m tội “Cướp giật tài sản”

Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã đư c sửa đổi, bổ sung năm 2009; Xử ph t bị cáo Nguyễn Đức H 02 (Hai) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày t m giữ, t m giam 26/5/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Huy - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H ph m tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 6 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 240/2017/HS-ST
Ngày: 07-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Viên – Cán bộ Mặt trận Tổ quốc Phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Vũ Khánh Hưng – Phó bí thư Quận Đoàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2017 t i tr s Tòa án quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm v án hình sự th lý số 215/2017/TLST-HS ngày 04/10/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, giới tính: Nam, sinh ngày 25/8/1999, t i: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số nhà 668/9 (số cũ: 512/4) đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố H; nghề nghiệp: bốc xếp hàng hóa; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Trần Công H, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1977; hoàn cảnh gia đình: chưa có v con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt và t m giam ngày 26/5/2017 đến nay(Có mặt).

Bị hại: Anh Dương Quang M, sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: số nhà 242/11B, đường A, Phường B, Quận C, Thành phố D(Vắng mặt).

Ngư i c quy n i, nghĩa v iên quan

1. Bà Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: số nhà 668/9 (số cũ: 512/4) đường X, Phường Y, quận Z, Thành phố H. (Có mặt)

2. Anh Huỳnh Thế H1, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: ấp N, xã M, huyện P, tỉnh K. (Vắng mặt)

Ngư i bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H:

Ông Vũ Anh T– Luật sư của Văn phòng luật sư Quang Lê thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 ngày 26/5/2017, Nguyễn Đức H điều khiển xe mô tô biển số 60B7-104.41 ch y trên đường Lê Văn Thọ, Phường 14, quận Gò Vấp thì phát hiện anh Dương Quang M đang dừng xe trước địa chỉ số nhà 513, đường Lê Văn Thọ, Phường 14, quận Gò Vấp để sử d ng điện tho i di động nên Huy ch y vòng xe l i từ phía sau vư t lên ép sát bên phải xe anh Minh và dùng tay trái giật điện tho i của anh Minh rồi tăng ga tẩu thoát. Anh Minh tri hô cùng quần chúng nhân dân đuổi theo thì Huy bị ngã xe nên bị bắt giữ cùng tang vật và phương tiện gây án giao cho Công an Phường 14 lập biên bản ph m tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện tho i di động hiệu OPPO F1s, số imei 1: 861216035352335, số Imei 2: 86126035352327

T i bản Kết luận giám định số 137/KL ngày 06/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự y ban nhân dân quận Gò Vấp, kết luận: Điện tho i OPPO F1s số imei 1: 861216035352335, số Imei 2: 86126035352327, hàng chính hãng, đã qua sử d ng theo giá thị trường ngày 26/5/2017 là 2.233.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả l i 01 điện tho i di động hiệu OPPO cho anh Dương Quang M.

- 01 xe gắn máy biển số 60B7-104.14, số khung RLCE55p10BY053177, số máy 55P1-053185. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Vũ Minh Long, sinh năm 1988, thường trú: Số 1458/44 đường Trần Cao Vân, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ quyền. Ngày 22/03/2017, anh Long bán xe trên cho anh Huỳnh Thế H1, sinh năm 1984, thường trú: ấp N, xã M, huyện P, tỉnh K bằng giấy tay. Ngày 23/5/2017, anh Hiến bán l i xe trên cho bà Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1977 (mẹ ruột của Huy) bằng giấy tay. Ngày 26/5/2017, Huy lấy xe đi cướp giật tài sản bà Duyên không biết.

Công an quận Gò Vấp đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 206/LNK ngày 09/6/2017 và phiếu nhập kho vật chứng số: 509/PNK ngày 9/6/2017

T i cơ quan điều tra, Nguyễn Đức H khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như đã nêu trên.

T i bản cáo tr ng số 223/Ctr -VKS ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

T i phiên toà hôm nay, Đ i diện viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với v án đã đề nghị: Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1 Điều 46, điều 69, Điều 74 của Bộ luật Hình sự;

- Xử ph t bị cáo Nguyễn Đức H mức án từ 02 (Hai) năm đến 2 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

- Miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị h i đã nhận l i tài sản và không có yêu cầu khác.

- Về xử lý vật chứng: Trả l i 01 chiếc xe gắn máy biển số 60B7-104.14, số khung RLCE55p10BY053177, số máy 55P1-053185 cho bà Nguyễn Thị Ánh D.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Huy: Đồng ý tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Việc truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên Luật sư đưa ra các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo khi ph m tội còn chưa thành niên nên nhận thức còn h n chế, bị cáo ph m tội do nông nổi, tài sản đã trả l i cho người bị h i, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo đư c hư ng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã đư c thẩm tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án, căn cứ vào các tài iệu trong hồ sơ v án đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh uận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều h p pháp.

T i phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như nội dung bản cáo tr ng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù h p với lời khai của người bị h i, người làm chứng, biên bản bắt người ph m tội quả tang, tang vật v án đư c thu giữ, phù h p với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo tr ng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ s pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Đức H ph m vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội ph m và hình ph t đư c qui định t i khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự .

Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài ph c v cho nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua l i bị cáo thực hiện hành vi ph m tội rất táo b o và liều lĩnh bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật. Bị cáo sử d ng phương tiện xe gắn máy ch y lên ép sát vào xe gắn máy của người bị h i để giật điện tho i di động của anh Minh là dùng thủ đo n nguy hiểm để ph m tội là tình tiết định khung hình ph t nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự là phù h p qui định pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm ph m quyền s hữu h p pháp về tài sản của người khác đư c pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác còn gây ảnh hư ng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi ph m tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp t c cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác d ng giáo d c cải t o bị cáo tr thành công dân tốt, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác. Đồng thời cũng nhằm m c đích răn đe và phòng ngừa tội ph m chung.

Tuy nhiên, khi lư ng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo ph m tội lần đầu chưa có tiền án tiền sự. T i cơ quan điều tra và diễn biến t i phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Khi thực hiện hành vi ph m tội bị cáo là người chưa thành niên nên khi lư ng hình cần áp d ng Điều 69, Điều 74 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo . Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo.

Về hình ph t bổ sung quy định t i khoản 5 Điều 138 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo ph m tội còn trong độ tuổi chưa thành niên nên không áp d ng hình ph t bổ sung cho bị cáo.

V trách nhiệm dân sự

T i phiên toà, người bị h i anh Dương Quang M vắng mặt nhưng qua các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện anh Minh đã nhận l i chiếc điện tho i và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

V xử ý vật chứng

- Điện tho i OPPO F1s số imei 1: 861216035352335, số Imei 2: 86126035352327. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả l i 01 điện tho i di động hiệu OPPO cho anh Dương Quang M. Hội đồng xét xử xét thấy việc trả l i tài sản trên là phù h p nên ghi nhận.

- 01 xe gắn máy biển số 60B7-104.14, số khung RLCE55p10BY053177, số máy 55P1-053185. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Vũ Minh Long, sinh năm 1988, thường trú:1458/44 Trần Cao Vân, xã Bàu Hàm 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ quyền. Ngày 22/03/2017, anh Long bán xe trên cho anh Huỳnh Thế H1, sinh năm 1984, thường trú: Ấp N, xã M, huyện P, tỉnh K bằng giấy tay. Ngày 23/5/2017, anh Hiến bán l i xe trên cho Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1977( mẹ ruột của Huy) bằng giấy tay. Ngày 26/5/2017, Huy lấy xe đi cướp giật tài sản chị Duyên không biết. Nhận thấy việc mua bán xe là không h p lệ, tuy nhiên chủ xe và người bán là ông Huỳnh Thế H1 đều xác nhận là đã bán xe cho bà Nguyễn Thị Ánh D. Do đó nghĩ nên trả chiếc xe cho bà Nguyễn Thị Ánh D.

Hội đồng xét xử xét thấy, lời bào chữa của luật sư đối với bị cáo Huy về các tình tiết giảm nhẹ một phần là có cơ s nên chấp nhận.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các ẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H ph m tội “Cướp giật tài sản”

Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã đư c sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử ph t bị cáo Nguyễn Đức H 02 (Hai) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày t m giữ, t m giam 26/5/2017.

Áp d ng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố t ng hình sự;

Trả l i cho bà Nguyễn Thị Ánh D xe gắn máy biển số 60B7-104.14, số khung RLCE55p10BY053177, số máy 55P1-053185.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 509/PNK ngày 19/6/2017 của Công an quận Gò Vấp )

Áp d ng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố t ng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của y ban thường v Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án .

Người bị h i, người có quyền l i nghĩa v liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày tính từ ngày bản án đư c tống đ t h p lệ.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự;

Trường h p bản án đư c thi hành theo qui định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định t i các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo qui định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ