- Tranh chấp gì? "Tô Đình P "hủy hoại rừng" - phạm tội hủy hoại rừng (điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b các bị cáo Tô Đình P, K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH ÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 24/2018/HSPT Ngày: 18-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH ÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Thị Minh Hương
Ông Nguyễn Văn Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 30/2018/TLPT-HS ngày 05-3-2018; đ i với các bị cáo Tô Đình P, K’S, K’H, Đăng Prơng H, Nao Se K’N; do kháng cáo của các bị cáo, đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 04/2018/HSST ngày 18-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Tô Đình P, sinh 1960 tại tỉnh Nam Định; Nơi ĐKNKTT và cư trú Thôn TN, xã NL, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Làm nông; Trình độ học vấn 07/10; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo Không; Con ông Tô Đình T, sinh 1927; Con bà bà Đỗ Thị L (đều đã chết); Vợ Ngô Thị T, sinh 1962; Con có 04 con lớn sinh 1983, nhỏ sinh 1994;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
2. Họ và tên: K’S, sinh 17-7-1985 tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và cư trú Thôn GB, xã TN, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Làm nông; Trình độ học vấn 05/12; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam; Dân tộc Nộp; Tôn giáo Tin lành; Con ông K’Y, sinh 1959; Con bà Ka Y, sinh 1967 (đã chết); Vợ Ka H, sinh 1988; Con có 02 con lớn sinh 2009, nhỏ sinh 2016;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
3. Họ và tên: K’H, sinh 06-02-1992 tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và cư trú Thôn h, xã TC, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Làm nông; Trình độ học vấn 08/12; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam; Dân tộc Nộp; Tôn giáo không; Con ông K’Đ, sinh 1964; Con bà Ka R sinh 1967; Vợ Ka N sinh 1989; Con có 01 con sinh 2014;
Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
4. Họ và tên: Đăng Prơng H, sinh 20-10-1989 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT và cư trú Thôn m, xã HB, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Làm nông; Trình độ học vấn 8/12; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam Dân tộc Nộp; Tôn giáo không; Con ông K’Đ, sinh 1964; Con bà Ka R sinh 1967; Vợ Ka H, sinh 1997, Con có 01 con sinh 2016;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
5. Họ và tên: Nao Se K’N, sinh 08-4-1996 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn h, xã TC, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Làm nông; Trình độ học vấn 8/12; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam; Dân tộc Nộp; Tôn giáo Thiên chúa; Con ông K’N, sinh 1958 (đã chết); Con bà Ka N, sinh 1967; Vợ Ka H, sinh 1997; Con có 01 con sinh 2015;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
Trong vụ án này, bị cáo K’B, K’D, nguyên đơn dân sự Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:
Vào kho ng tháng 02-2013, các bị cáo K’S; K’H; Nao Se K’N; Đăng Prơng H; K’B; K’D nghe nói bị cáo P có đất rừng không sử dụng đang cần bán; nên các bị cáo cùng liên hệ với bị cáo P để đi xem đất. Sau khi gặp gỡ, trao đổi; bị cáo P dẫn các bị cáo vào kho nh 2, tiểu khu 677 xã TB, huyện DL để chỉ đất rừng; bị cáo P cho biết “đất rừng thuộc QSD của mình và chỉ diện tích đất khoảng 60.000m2 (trong đó khoảng 20.000m2 là đất rừng đã bị khai phá trái phép trước đó, chỉ có cây chồi mọc còn lại khoảng 40.000m2 là rừng cây lồ ô, lứa và cây gỗ tạp). Sau khi đi coi đất, các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H, K’B, K’D đã biết là đất rừng không được khai phá để làm rẫy, nhưng do không có đất s n xuất, bị cáo P nói giá 28.000.000đ/ha nên đồng ý mua. Các bị cáo đã tr cho bị cáo P tổng cộng 160.000.000đ; trong đó các bị cáo K’S, K’B, K’D và Đăng Prơng H mỗi người tr 28.000.000đ; K’H tr 26.000.000đ; bị cáo Nao se K’N tr 22.000.000đ, sau đó qu n lý canh tác đất.
Trong năm 2013, các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H, K’B, K’D đã phát dọn kho ng 20.000m2 đã bị khai phá trước đó để trồng cà phê và chia nhau canh tác; đến kho ng tháng 10-2016, các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H cùng bàn bạc tiếp tục vào khu vực giáp ranh cùng nhau phát, đ t, dọn, cu c h và trồng cà phê xong rồi mới chia nhỏ diện tích ra cho từng người, nên các bị cáo chuẩn bị 01 cưa xăng, 04 con dao vào kho nh 2, tiểu khu 677 xã TB, huyện DL dùng dao phát các cây nhỏ, các cây gỗ lớn thì dùng cưa xăng để cưa; sau 04 ngày các bị cáo phát dọn diện tích 15.427m2 dừng lại chờ cho cây khô. Các bị cáo K’B, K’D thấy nhóm của bị cáo K’S phát rừng làm rẫy cũng bàn bạc th ng nhất cách làm gi ng nhóm bị cáo K’S, đã phát dọn trong 02 ngày được diện tích 7.393m2 dừng lại chờ cây khô.
Đến kho ng tháng 01-2017; các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H, K’B, K’D vào đ t cây đã khô của diện tích đã phát; đến đầu tháng 4-2017 các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H vào đ t cây đã khô, dọn những cây còn xót lại và đào h trồng cà phê.
Đến ngày 18-4-2017, khi các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H đang cu c h trồng cà phê thì bị Công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp phát hiện, lập biên b n vi phạm về hành vi hủy hoại rừng.
Căn cứ biên b n khám nghiệm hiện trường, kết luật định giá trong t tụng hình sự ngày 03-10-2017 xác định thiệt hại lâm s n, môi trường do các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H chặt phá kho nh 2 tiểu khu 677 xã Tam B diện tích 15.427m2, thiệt hại lâm s n và môi trường 133.737.164đ; diện tích rừng các bị cáo K’B, K’D chặt phá tại kho nh 2 tiểu khu 677 xã Tam B là 7.393m2 thiệt hại về lâm s n, môi trường 64.051.693đ.
Theo Quyết định s 450/QĐ-UBND ngày 19-02-2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt, quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2008-2020, kho nh 2 tiểu khu 677 xã Tam B , huyện Di Linh là “rừng sản xuất”; đ i chiếu điểm b Kho n 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11-11-2013 của Chính phủ thì hành vi của các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H, K’B, K’D xâm hại đến rừng s n xuất với diện tích 22.820m2, trên mức t i đa mức xử lý vi phạm hành chính.
Tang vật thu giữ: một xe máy biển s 49N9-4852; một xe máy biển s 49M9-5502; một xe máy biển s 49V3-8364; một xe máy 49G1-15394; các giấy tờ tùy thân của các bị cáo. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng tr lại 04 xe máy cho chủ sở hữu hợp pháp; tr lại các giấy tờ tùy thân cho các bị cáo.
- 01 cưa máy hiệu New West (màu đỏ lưỡi bằng sắt có nhiều răng cưa); 07 con dao phát (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại); 01 cu c chỉa 3 răng (cán gỗ, lưới sắt); 03 cu c (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại). Ngoài ra, bị cáo P đã tự nguyện nộp và Cơ quan Điều tra thu giữ s tiền 160.000.000đ từ các kho n tiền bán đất.
Về bồi thường thiệt hại: Về phía Công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp xác định diện tích đất rừng thuộc kho nh 2, tiểu khu 677, xã Tam B bị tác động là rừng lồ ô, lứa và cây gỗ tạp. Hiện nay đang là mùa mưa lên cây rừng tái sinh rất nhanh, đã phủ kín trở lại nên không cần ph i trồng lại rừng, không yêu cầu bồi thường. Do vậy, s tiền các bị cáo nộp khi điều tra, tr lại cho các bị cáo.
Đ i với hành vi bán đất rừng của bị cáo P cho các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H, K’B và K’D được s tiền 160.000.000đ. nhưng không có hành vi gian d i nên không cơ sở để truy cứu trách nhiệm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tại b n án s 04/2018/HSST ngày 18-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh; tuyên b các bị cáo P, K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H, K’Bin và K’D phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 189; các điểm b, p kho n 1, kho n 2 Điều 46; các Điều 47; 20; 33; 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 1999); Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; để áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 2015);
- Xử phạt Tô Đình P 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng điểm c, kho n 2 Điều 189; các điểm b, p kho n 1, kho n 2 Điều 46; các Điều 47; 20; 33; 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; để áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự 2015 đ i với các bị cáo K’S, bị cáo K’H, bị cáo Nao Se K’N, bị cáo Đăng PRơng H.
Xử phạt K’S 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt K’H 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt Nao Se K’N 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt Đăng PRơng H 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng kho n 1 Điều 189; các điểm b, p kho n 1, kho n 2 Điều 46; các Điều 20; 31, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; đ i với các bị cáo K’B, bị cáo K’D;
Xử phạt K’B 12 tháng c i tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục bị cáo nhận được b n sao b n án và quyết định thi hành án.
Xử phạt K’D 12 tháng c i tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục bị cáo nhận được b n sao b n án và quyết định thi hành án.
Ngoài ra, b n án còn xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 23-01-2018 các bị cáo Tô Đình P, K’Sơn, K’H, Nao Se K’N, Đăng Prơng H cùng kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm; các bị cáo khai nhận gi ng như b n án sơ thẩm đã quy kết, không thắc mắc khiếu nại b n án sơ thẩm; Các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng Prơng H cùng trình bày nguyên nhân do nhận thức pháp luật hạn chế, là người đồng bào dân tộc và do thiếu đất s n xuất nên ân hận về hành vi của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật t tụng hình sự; giữ nguyên b n án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Phi biết là đất rừng không được phép khai phá nhưng đã khai phá được 20.000m2, nên cho rằng là đất của mình đã bán cho các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng Prơng H, K’B, K’D; sau đó các bị cáo này cũng biết là đất rừng không được phép khai phá nhưng tiếp tục khai phá rộng ra thêm để trồng cà phê, trong đó các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H cùng phát rừng chung nhau 15.427m2; các bị cáo K’B, K’D cùng phát chung nhau diện tích 7.393m2;
Căn cứ biên b n khám nghiệm đ i chiếu Quyết định s 450/QĐ-UBND ngày 19-02-2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng; về quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2008-2020 thì vị trí rừng các bị cáo xâm hại thuộc kho nh 2 tiểu khu 677 xã Tam B , huyện Di Linh loại “rừng sản xuất”; căn cứ điểm b kho n 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11-11-2013 của Chính phủ; hành vi của các bị cáo xâm hại đến rừng s n xuất với diện tích 22.820m2, trên mức t i đa mức xử lý vi phạm hành chính. Đ i chiếu lời khai của các bị cáo biên b n khám nghiệm đã xác định các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H chặt phá diện tích 15.427m2 gây thiệt hại lâm s n, môi trường 133.737.164đ; các bị cáo K’B, K’D chặt phá diện tích 7.393m2, gây thiệt hại về lâm s n, môi trường 64.051.693đ. Cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ, tuyên b các bị cáo Tô Đình P, K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng Prơng H, K’B, K’D phạm tội “Hủy hoại rừng”; theo quy định Điều 189 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.
Xét kháng cáo của các bị cáo, đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến khách thể môi trường, đ i tượng là rừng được nhà nước b o vệ; trong đó bị cáo Phi ph i chịu trách nhiệm về hành vi hủy hoại 20.000m2; các bị cáo K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng Prơng H ph i chịu trách nhiệm chung về hành vi hủy hoại rừng diện tích 15.427m2; các bị cáo K’B, K’D ph i chịu trách nhiệm chung về hành vi hủy hoại rừng diện tích 7.393m2. Cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết gi m nhẹ như các bị cáo “thành khẩn khai báo” quy định điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; các bị cáo tự nguyện nộp “bồi thường thiệt hại” quy định điểm b kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Cha bị cáo P (ông T) có thành tích công hiến, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến, nên được cáp dụng thêm khoàn 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra cấp sơ thẩm đã phân hóa vai trò đồng phạm và áp dụng hình phạt đ i với đồng phạm, theo quy định các Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015; áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định dưới mức thấp nhất khung hình phạt. Bên cạnh đó, các bị cáo còn được áp dụng nguyên tắc có lợi quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, theo Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; để áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự 2015 khi Quyết định mức hình phạt là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo đề nghị được hưởng án treo đ i chiếu với các tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng; được áp dụng nhiều tình tiết gi m nhẹ quy định kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; các bị cáo đều có nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài ra, về phía nguyên đơn dân sự Công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp xác định diện tích đất rừng bị xâm hại là rừng lồ ô, lứa và cây gỗ tạp; hiện cây rừng tái sinh phủ kín trở lại không cần ph i trồng lại rừng, nên mức độ nh hưởng môi trường do hành vi xâm hại cũng đã được khắc phục một phần. Bên cạnh đó, các bị cáo là đồng bào dân tộc nhận thức pháp luật hạn chế; hoàn c nh kinh tế khó khăn, nếu buộc các bị cáo chấp hành hình phạt cách ly ra kho i xã hội sẽ nh hưởng đến đ i s ng kinh tế gia đình họ. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 để cho các bị cáo được c i tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa loại tội phạm này.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355, điểm e kho n 1 Điều 357 Bộ luật t tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa b n án sơ thẩm, Xử:
1. Tuyên b các bị cáo Tô Đình P, K’S, K’H, Nao Se K’N, Đăng PRơng H phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 189 của Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 54, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; để áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự 2015 đ i với bị cáo Tô Đình P.
Xử phạt Tô Đình P 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Tô Đình Phcho Ủy ban nhân dân xã NL, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
- Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 189 của Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm b, s kho n 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 54, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; để áp dụng điểm đ kho n 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự 2015 đ i với các bị cáo K’S; bị cáo K’H; bị cáo Nao Se K’N; bị cáo Đăng PRơng H.
Xử phạt K’S 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt K’H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt Nao Se K’N 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt Đăng PRơng H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo K’H, Nao Se K’N, cho Ủy ban nhân dân xã TC, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Giao bị cáo K’S cho Ủy ban nhân dân xã TN, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; Giao bị cáo Đăng Prơng H, cho Ủy ban nhân dân xã HB, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Căn cứ kho n 2 Điều 135, kho n 2 Điều 136 của Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo không ph i chịu án phí phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA; - TA huyện Di Linh; - VKS huyện Di Linh; - Công an huyện Di Linh; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS Di Linh; - Các bị cáo (để thi hành); - Lưu hồ sơ; Án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Kim Đồng |