- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYÊN THANH S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng b khoản 1 Điều 173, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2018/HSST Ngày: 05-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Bích Liên – Chi cục Thuế thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
2. Ông Võ Thành Dương – Phòng giáo dục và đào tạo, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long – Thư ký tòa án nhân dân thị xã Gò Công.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2018/TL-HSST ngày 24 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh S, sinh năm 1975 tại Long An; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố B, thị trấn CG, huyện CG, tỉnh Long An; Chỗ ở: Sống lang thang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1944 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1950 (đã chết); Anh chị em có 07 người, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1983, bị cáo là con thứ trong gia đình; Vợ con chưa có; Tiền án 02 lần (chưa xóa án tích): Năm 1996 phạm tội Giết người, tại Bản án số 839/HSST ngày 26/5/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng khoản 1 Điều 101, điểm h khoản 1 Điều 39, Điều 40 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh S 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/1996 và Năm 2017, phạm tội Trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tài sản có giá trị là 2.200.000 đồng tại Bản án sơ thẩm số 30/2017/HSST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33, Điều 45, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2017, chấp hành xong ngày 06/01/2018, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/3/2018, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1987 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp MNg, xã BĐ, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
- Đỗ Thanh B, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp MNg, xã BĐ, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng: Trương Thành T, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp MNg, xã BĐ, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 19/3/2018, Nguyễn Thanh S từ bến xe Quận TT, Thành phố Hồ Chí Minh đi xe buýt đến thị xã Gò Công để trộm cắp tài sản. Đến đoạn Quốc lộ 50 thuộc xã BĐ, thị xã GC thì xuống xe đi bộ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo nhìn thấy anh Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1987, ngụ ấp M Ng, xã BĐ, thị xã Gò Công đang nằm ngủ trên võng trước cửa, kế bên có 01 chiếc điện thoại di động đang sạc bin, anh S đã lén lúc lấy cái điện thoại rồi bỏ vào túi quần.
Sau đó, tiếp tục đến nhà của anh Đỗ Thanh B, sinh năm 1979, ngụ ấp MNg, xã BĐ, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang phía trước có bán tạp hóa nhưng đã đóng cửa. Khi đi vòng ra phía sau tiệm tạp hóa thì bị cáo S phát hiện 01 chiếc xe đạp màu trắng hiệu Martin nên đã lén lúc dẫn chiếc xe đạp ra trước sân, rồi tiếp tục ra phía hông nhà phát hiện một con gà mái trong chuồng nên đã lấy dây trói hai chân con gà lại và bỏ vào chiếc giỏ của xe đạp rối dắt xe ra trước sân định tẩu thoát thì anh B và anh T ngụ cùng ấp đi chơi về phát hiện anh S trộm cắp tài sản nên đã tri hô và bắt giao cho Công an xã Bình Đông.
Theo Kết luận định giá số 04/KL-HĐĐG ngày 04/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công thì 01 (một) con gà mái, lông màu vàng nhạt, nặng 1,5kg giá 150.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động màu xám bạc, hiệu HUAWEI, màn hình bị bể giá 300.000 đồng; 01 (một) xe đạp màu trắng bạc, hiệu Martin giá 600.000 đồng. Tổng giá trị là 1.050.000 đồng (Bút lục 49).
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSTXGC ngày 23/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bút lục 129-130)
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 9 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù tình từ ngày 19/3/2018.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Nguyễn Thành Tr và anh Đỗ Thanh B không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. (BL 57, 59, 67, 74).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng thống nhất nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp cáo trạng, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy (do bị cáo nghiện ma túy), bị cáo đã lợi dụng sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để lén lúc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản gồm: 01 (một) con gà mái, lông màu vàng nhạt, nặng 1,5kg; 01 (một) điện thoại di động màu xám bạc, hiệu HUAWEI, màn hình bị bể; 01 (một) xe đạp màu trắng bạc, hiệu Martin có giá trị được Hội đồng định giá theo kết luận định giá số 04 ngày 04/4/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công định giá thì tổng giá trị là 1.050.000 đồng (Bút lục 49).
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Bị cáo S đã chiếm đoạt tài sản của anh Tr và anh B có giá trị dưới 2.000.000 đồng (cụ thể là 1.050.000 đồng) nhưng do bị cáo chưa được xóa án tích đối với tội trộm cắp tài sản theo bản án số 30/2017/HSST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Như vậy đã có đủ cơ sở Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác cụ thể trong vụ án này là tài sản của anh Nguyễn Thành Tr và anh Đỗ Thanh B được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và bất bình trong quần chúng nhân dân .Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng để nhận thức pháp luật, nhưng lại không có ý thức tu dưỡng rèn luyện mà lại thực hiện hành vi lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Về nhân thân bị cáo phạm tội Giết người bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù (Bản án số 839/HSST ngày 26/5/1997); Tội Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù (Bản án sơ thẩm số 30/2017/HSST) đã chấp hành xong chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó để làm bài học ăn năn hối cải lại tiếp tục phạm tội nên cần nghiêm trị. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công đã trả lại cho anh Đỗ Thanh B 01 (một) con gà mái, 01 (một) chiết xe đạp và trả cho anh Nguyễn Thành Tr 01 (một) chiếc điện thoại hiệu HUAWEI. Xét thấy việc trả vật chứng của cơ quan điều tra phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người bị hại là anh Nguyễn Thành Tr và anh Đỗ Thanh B sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng b khoản 1 Điều 173, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/3/2018.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh S 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày 05/7/2018 để đảm bảo thi hành án.
2.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Gò Công; - Chi cục THADS thị xã Gò Công; - Cơ quan THA.HS thị xã Gò Công; - Bị cáo; Bị hại; NLQ; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hằng |