vanban.org

Bản án 24/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bc Nguyễn Văn Tuấn Anh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2025.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HS-ST
Ngày 19-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Quí

2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Phượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 416/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Tuấn A; giới tính: Nam; sinh ngày 18 tháng 10 năm 2004 tại tỉnh Hải Dương. CCCD số 030204001xxx cấp ngày 24/7/2023. Nơi cấp Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú: xx, xã Hà Nam, Thành phố Hải Phòng (xã Thanh Lang, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1978 và bà: Tăng Thị D, sinh năm 1981; Hoàn cảnh gia đình: Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2025 sau đó chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 23/8/2025, Công an xã Xuân Thới Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính khách sạn Hưng Thịnh tại địa chỉ YY, xã Xuân Thới Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Văn Tuấn A có biều hiện sử dụng trái phép chất ma túy và Nguyễn Văn Tuấn A đã gia nộp 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh có đầu tròn chứa chất rắn và 01 túi nylong chứa tinh thể (để trong nhà vệ sinh) mà Nguyễn Văn Tuấn A cất giấu để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật chứng nêu trên.

Nguồn gốc ma túy Nguyễn Văn Tuấn A có được là ngày 22/8/2025, Nguyễn Văn Tuấn A liên lạc với người thanh niên tên “Huy” qua số điện thoại “0898632171” hỏi mua một hộp 5 ma túy đá với giá 3.000.000 đồng và hẹn giao ma túy tại phòng 205 khách sạn VOI địa chỉ: XX, phường Bình Hưng Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày Nguyễn Văn Tuấn A đặt xe Grap đến khách sạn Voi phòng 205 gặp Huy để nhận 01 (một) gói nylon chứa ma túy và trả tiền cho Huy, sau khi nhận tiền Huy cho Nguyễn Văn Tuấn A một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa có nắp đậy, trên nắp nhựa có gắn 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh có đầu tròn và chứa một ít ma túy. Khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, Tuấn A đón xe đến khu vực chợ đầu mối Hóc Môn và thuê phòng 201 tại khách sạn Hưng Thịnh để sử dụng ma túy. Đến 20 giờ 00 phút, Tuấn A lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và sử dụng một mình rồi cất bộ dụng cụ cùng ma tuý còn lại chưa sử dụng trên nắp tolet rồi nằm nghỉ.

Kết luận giám định số 3743/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Tinh thể trong 02 (hai) gói niêm phong ghi số vụ 3617/25 bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Hải (Điều tra viên) và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh (Bút lục: 28, 29).

- Gói 1: 01 ống thủy tinh dính chất nghi ma túy, kết quả: là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,0892g (không phẩy không tám chín hai gam), loại Methamphetamine.

- Gói 2: 01 gói nylon chưa tinh thể, kết quả: là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 4,1699g (bốn phẩy một sáu chín chín gam), loại Methamphetamine.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý: Nguyễn Văn Tuấn A dương tính với ma tuý tổng hợp (BL số 68).

Vật chứng thu giữ:

- 01 túi đeo chéo;

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 ống nỏ thủy tinh thể;

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể;

- 01 hột quẹt (bật lửa);

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax có số 1ME1357261091451366, tình trạng đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu VIVO có số IMEI1 860749057814973, IMEI2 860749057814965, tình trạng đã qua sử dụng;

- 01 ống nhựa có chân đế bằng kim loại, trên ống nhựa có nắp đậy, trên nắp đậy có gắn 01 ống hút nhựa (dùng để sử dụng ma túy).

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSKV8 ngày 08/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A mức hình phạt từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng thu giữ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 túi đeo chéo;

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 ống nỏ thủy tinh thể;

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể;

- 01 hột quẹt (bật lửa);

- 01 ống nhựa có chân đế bằng kim loại, trên ống nhựa có nắp đậy, trên nắp đậy có gắn 01 ống hút nhựa (dùng để sử dụng ma túy);

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax có số 1ME1357261091451366;

- Ghi nhận sự tư nguyện của bị cáo nộp 01 điện thoại di động hiệu VIVO có số IMEI1 860749057814973, IMEI2 860749057814965.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an xã Xuân Thới Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng; nội dung bị cáo khai nhận phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và lời khai qua xét hỏi công khai tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản (tạm giữ đồ vật

- tài liệu; niêm phong và mở niêm phong vật chứng; đối chất), lời khai của người chứng kiến; cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở để kết luận: Với động cơ thỏa mãn nhu cầu bất chính của bản thân bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A, đã mua chất ma túy về cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân cụ thể vào ngày 22/08/2025 tại phòng 201 tại khách sạn Hưng Thịnh tại địa chỉ XX xã Xuân Thới Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Tuấn A có hành vi cất giấu 4,2591g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine (gói 1: 0,0892g; gói 2: 4,1699g theo Kết luận giám định số: 3743/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh) để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ thoả mãn nhu cầu bất chính của bản thân, vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của Nhà nước để cố ý phạm tội. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, về hình phạt đặt ra phải nghiêm cần có thời gian cách ly xã hội đối với bị cáo mới có tác dụng của hình phạt, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội không có động cơ thu lợi bất chính nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1 Về tình tiết tăng nặng trách hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo lần đầu phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt đáng ra phải chịu theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố đã viện dẫn là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là chất độc hại cấm tuyệt đối sử dụng nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ. Cụ thể, gồm:

- 01 túi đeo chéo (không còn giá trị sử dụng);

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 ống nỏ thủy tinh thể;

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể;

- 01 hột quẹt (bật lửa);

- 01 ống nhựa có chân đế bằng kim loại, trên ống nhựa có nắp đậy, trên nắp đậy có gắn 01 ống hút nhựa (dùng để sử dụng ma túy).

Đối với 02 điện thoại di động, bị cáo dùng để liên lạc với tên Huy để mua ma túy nên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước là có căn cứ, đối với:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax có số 1ME1357261091451366;

- Ghi nhận sự tự nguyện nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu VIVO có số IMEI1 860749057814973, IMEI2 860749057814965.

Đối với đối tượng nam đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Tuấn A tên “Huy” sử dụng số dụng điện thoại “0898632171” Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn yêu cầu xác minh thông tin từ nhà mạng Mobifone, kết quả cung cấp thông tin không có thông tin chủ tài khoản, không xác minh được thời gian cuộc gọi nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét xử lý sau là phù hợp.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ;

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

2.1. Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) túi đeo chéo;

- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 ống nỏ thủy tinh thể;

- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 3617/25 bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể;

- 01 (một) hột quẹt;

- 01 (một) ống nhựa có chân đế bằng kim loại, trên ống nhựa có nắp đậy, trên nắp đậy có gắn 01 ống hút nhựa.

2.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax có số 1ME 1357261091451366;

- Ghi nhận sự tự nguyện nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO có số IMEI1 860749057814973, IMEI2 860749057814965.

(Vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 95/QĐ-VKS-HS ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ