- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn K - Tàng trữ hàng cấm - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2026/HS-ST Ngày 10-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Viên, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sòi Hùng Thịnh, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Đinh Văn K; sinh ngày 13 tháng 01 năm 1994 tại xã P, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản T, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không; con ông Đinh Văn T1, sinh năm 1968 và bà Sa Thị Y, sinh năm 1968; bị cáo có vợ Hà Thị N, sinh năm 1994 và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2025 đến ngày 24/12/2025 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/12/2025 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn mua pháo về sử dụng, khoảng 19 giờ ngày 17/12/2025, Đinh Văn K và 01 người có tài khoản trên mạng xã hội Facebook (Không nhớ tên tài khoản) đã liên lạc, nhắn tin với nhau qua ứng dụng Messenger để mua, bán pháo. K cho bên bán số điện thoại của mình có số thuê bao 0966.824.615. Một lúc sau có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0833.177.967 gọi lại cho K. Người này giới thiệu nhà khu vực xã M, tỉnh Sơn La nhưng không nói tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và nói có pháo hoa nổ bán giá 350.000đ/01 giàn (hộp) bé, 450.000đ /01 giàn (hộp) to. K hỏi mua 03 giàn bé và 03 giàn to với giá tiền tổng cộng là 2.400.000đ. Người bán đồng ý và thỏa thuận phương thức giao dịch sẽ gửi hàng qua nhà xe (không rõ xe gì) cho K, khi nào xe đến nơi sẽ có người gọi điện cho K đến lấy hàng. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2025, có một người đàn ông gọi điện cho K từ số điện thoại 0787.432.523 hẹn đến bản B, xã P, tỉnh Sơn La để lấy hàng. Nghe vậy, K một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, trắng, BKS: 26D1 - 026.40 để nhận pháo tại đường vào bản Ban, xã P. Khi gặp nhau người giao hàng nói với K “Có người gửi hàng cho em, tổng tiền hàng là hai triệu tư, hàng anh để ở chân cột điện bên kia đường”, K đưa cho người giao hàng 2.400.000đ bằng tiền mặt, người giao hàng nhận tiền rồi đi về. K chưa lấy pháo luôn mà đi mua xăng vì sợ người khác phát hiện là hàng cấm, mua xăng xong K quay lại lấy thùng bìa cát tông đựng pháo thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Về vật chứng của vụ án gồm: 03 hộp hình chữ nhật có kích thước 16cm x 16cm x 10cm; 03 hộp hình chữ nhật có kích thước 14cm x 14cm x 10cm vỏ ngoài các mặt hộp được bọc bằng giấy in hoa văn nhiều màu sắc trong đó có biểu tượng hình pháo hoa có nhiều chữ nước ngoài. 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, trắng, BKS: 26D1 - 026.40, 01 giấy đăng ký mô tô xe máy số 004111 mang tên Đinh Văn K và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu trắng.
Ngày 22/12/2025, Viện khoa học hình sự Bộ Công an ban hành kết luận giám định số: 9685/KL-KTHS kết luận: “Các mẫu gửi giám định đều là pháo nổ (Pháo hoa nổ). Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) là 8,5kg (Tám phẩy năm ki lô gam) và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất. Mẫu cần giám định đã được sử dụng hết để thực hiện giám định nên không hoàn trả”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKSSLA-KV ngày 26 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, truy tố bị cáo Đinh Văn K phạm tội “Tội tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn K từ 07 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/3/2026). Giao bị cáo cho UBND xã M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu trắng; trả lại cho bị cáo Đinh Văn K 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, trắng, BKS: 26D1 - 026.40, 01 giấy đăng ký mô tô xe máy số 004111 mang tên Đinh Văn K. Miễn án phí cho bị cáo Đinh Văn K.
Ý kiến của bị cáo Đinh Văn K tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát, nhất trí tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, đề nghị xem xét trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, trắng, BKS: 26D1 - 026.40 cùng giấy tờ xe.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản sự việc, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2025, Đinh Văn K đã có hành vi mua 06 giàn pháo nổ (pháo hoa nổ) (03 giàn bé, 03 giàn to) không phải do doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ sản xuất (theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng pháo) với giá 2.400.000 đồng của một người không quen biết trên mạng xã hội Facebook với mục đích về sử dụng thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng tại bản Ban, xã P, tỉnh Sơn La. Hành vi trên của bị cáo Đinh Văn K đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn K: Bị cáo Đinh Văn K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc tàng trữ trái phép pháp hoa nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn K là ít nghiêm trọng được quy định tại c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Văn K: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do vậy bị cáo Đinh Văn K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Việc cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế vẫn còn khó khăn, bị cáo đang phải nuôi dưỡng bố mẹ già và hai con nhỏ. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu trắng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, trắng, BKS: 26D1 - 026.40 và 01 giấy đăng ký mô tô xe máy số 004111 mang tên Đinh Văn K là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Đinh Văn K không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xem xét xử lý. Vì vậy, cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý.
Đối với người bán và người giao pháo hoa nổ cho Đinh Văn K, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn K 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 10/3/2026).
Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Đinh Văn K cho Uỷ ban nhân dân xã M, tỉnh Sơn La; giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 2 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Đinh Văn K trong thời gian chấp hành án.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu trắng; trả lại bị cáo Đinh Văn K 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, trắng, BKS: 26D1 - 026.40, 01 (Một) giấy đăng ký mô tô xe máy số 004111 mang tên Đinh Văn K.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 30 phút ngày 03/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn K.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Phòng THADS khu vực 5 – Sơn La; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Phân trại tạm giam P; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. THÀNH VIÊN Đinh Thị Minh Thúy Lê Thị Bống THÀNH VIÊN Đinh Thị Minh Thúy Lê Thị Bống THÀNH VIÊN Đinh Thị Minh Thúy Trần Minh Tiến | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Huyền Trang THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Huyền Trang THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Huyền Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Huyền Trang |