- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cho ly hôn giữa bà Võ Thị Mỹ L, sinh ngày 16/4/1987 và ông Phạm Văn L1, sinh ngày 23/8/1976"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ L.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2026/HNGĐ-ST Ngày: 17-8-2026 V/v “Ly hôn giữa bà Lan và ông Linh”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Hữu Pha.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đinh Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 141/2026/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2026 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ L, sinh ngày 16/4/1987.
Căn cước số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/7/2025.
Địa chỉ: Thôn T, xã A, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn L1, sinh ngày 23/8/1976. CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 01/5/2021.
Địa chỉ: Thôn T, xã A, tỉnh Khánh Hòa. (Nguyên đơn và bị đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13-5-2026 và quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn – bà Võ Thị Mỹ L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn L1 tiến đến hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã A, tỉnh Khánh Hòa). Thời gian chung sống tương đối hòa thuận nhưng sau xảy ra mâu thuẫn, ông L1 ghen tuông vô cớ, vợ chồng không có tiếng nói chung, hay xảy ra tranh cãi, ông L1 hay xúc phạm vợ và gia đình vợ, hai người hiện không còn sống chung, không còn quan tâm nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Nay bà đề nghị giải quyết cho ly hôn với ông L1.
- Về con chung: Bà và ông L1 có 03 con chung tên Phạm Võ Nam Huy H, sinh ngày 28/9/2004, Phạm Võ Nam Hoàng H1, sinh ngày 20/8/2006 và Phạm Võ Ý N, sinh ngày 10/3/2016. Khi ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Quá trình khởi kiện, bà yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/ tháng, nay bà xin rút lại yêu cầu này. Cháu H và cháu H1 đã trưởng thành, có khả năng lao động và tài sản tự nuôi mình nên bà không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, số nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Quá trình tham gia tố tụng, Bị đơn – ông Phạm Văn L1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị Mỹ L tiến đến hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2004, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã A, tỉnh Khánh Hòa). Thời gian chung sống không có mâu thuẫn gì nhưng bà L tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ. Nay bà L đề nghị giải quyết cho ly hôn với ông thì ông không đồng ý.
- Về con chung: Ông và bà L có 03 con chung tên Phạm Võ Nam Huy H, sinh ngày 28/9/2004, Phạm Võ Nam Hoàng H1, sinh ngày 20/8/2006 và Phạm Võ Ý N, sinh ngày 10/3/2016. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, ông không cấp dưỡng nuôi con. Cháu H và cháu H1 đã trưởng thành, có khả năng lao động và tài sản tự nuôi mình nên ông không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, số nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vắng mặt, quá trình giải quyết đều có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử sơ thẩm nghị án.
2. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự:
Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
3. Về việc giải quyết vụ án:
Tình trạng hôn nhân của bà L và ông L1 đã mâu thuẫn trầm trọng, nay bà L xin giải quyết cho ly hôn với ông L1, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn ông L1.
- Về con chung: Giao con chung là cháu N cho bà L nuôi dưỡng, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.
- Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Bà Võ Thị Mỹ L khởi kiện, yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Văn L1 và giải quyết vấn đề con chung, không yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn – ông Phạm Văn L1 có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã A, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 thành lập tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa.
[1.3] Xử lý về sự vắng mặt của đương sự:
Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định, bà L và ông L1 đã có ý kiến trình bày và đều đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà L và ông L1 kết hôn và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 182/2004, quyển số I/2004, ngày 30/7/2004. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, ông bà không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn. Như vậy, căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân của hai người được công nhận là hợp pháp.
Quá trình chung sống, bà L trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do ông L1 ghen tuông vô cớ, vợ chồng hay xảy ra tranh cãi, ông L1 hay xúc phạm vợ và gia đình vợ, hai người hiện không còn sống chung, không còn quan tâm nhau, mâu thuẫn trầm trọng. Ông L1 thừa nhận vợ chồng không còn sống chung, bà L tự ý bỏ về nhà mẹ ruột nhưng vợ chồng không có mâu thuẫn gì nên không đồng ý ly hôn.
Xác minh tại địa phương thể hiện: Thời gian gần đây không rõ nguyên nhân gì mà bà L và ông L1 thường xuyên cãi vã, bà L đã bỏ về nhà mẹ ruột ở xã N sinh sống.
Xét thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau, tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau nhưng hai người không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không còn tình nghĩa vợ chồng, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không đạt được mục đích hôn nhân.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Hôn nhân giữa bà L và ông L1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông L1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.
[2.2] Về nuôi con chung:
Bà L và ông L1 có 03 con chung tên Phạm Võ Nam Huy H, sinh ngày 28/9/2004, Phạm Võ Nam Hoàng H1, sinh ngày 20/8/2006 và Phạm Võ Ý N, sinh ngày 10/3/2016. Khi ly hôn, ông bà đều thống nhất giao cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Cháu H và cháu H1 đã trưởng thành, có khả năng lao động và tài sản tự nuôi mình nên ông bà không yêu cầu giải quyết. Do đó, xét nguyện vọng của bà L, ông L1, ý kiến của cháu N, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy: Giao cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N là phù hợp.
Quá trình khởi kiện, bà L yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/ tháng, sau đó bà xin rút lại yêu cầu này. Ông L1 cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, số nợ chung:
Không đương sự nào yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.
Về án phí:
Nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Bà Võ Thị Mỹ L và ông Phạm Văn L1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 thành lập tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân khu vực; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Võ Thị Mỹ L, sinh ngày 16/4/1987 và ông Phạm Văn L1, sinh ngày 23/8/1976.
1.2. Về nuôi con chung:
Giao con chung là cháu Phạm Võ Ý N, sinh ngày 10/3/2016 cho bà Võ Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung:
Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2. Về án phí:
Bà Võ Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0004669 ngày 03/6/2026. Bà Võ Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Nguyên đơn – Bà Võ Thị Mỹ L và Bị đơn – Ông Phạm Văn L1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND KV7 – Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - UBND xã Anh Dũng; (GCNĐKKH số 182/2004, quyển số I/2004, ngày 30/7/2004) - Lưu: Hồ sơ vụ án, Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thùy Dung |