vanban.org

Bản án 24/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N đối với ông Nguyễn Hoàng V.

1. Về hôn nhân: Cho bà Phạm Bích N ly hôn ông Nguyễn Hoàng V. 2. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm B N "Tranh chấp ly hôn" Nguyễn H V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N đối với ông Nguyễn Hoàng V.
  • Căn cứ chính? Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người; Luật Phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 13-4-2026
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Quân

Ông Võ Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tây Ninh.

Ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 249/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Bích N, sinh năm 1981

Địa chỉ: N, xã N, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1983

Địa chỉ: N, xã N, tỉnh Tây Ninh.

Bà Phạm Bích N có mặt, ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Bích N trình bày: Bà N và ông V chung sống với nhau từ năm 2019, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An (đơn vị hành chính cũ) vào ngày 12 tháng 02 năm 2019. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Phạm Thiên K, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2021. Từ khoảng đầu năm 2025, thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến thời điểm hiện tại.

Nay bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N yêu cầu được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà N tự nguyên giao con chung Nguyễn Phạm Thiên K, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2021 cho ông V tiếp tục nuôi dưỡng, cháu K hiện đang chung sống với ông V.

Bà N không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Hoàng V: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt và không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Hoàng Văn tự N1 kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An (đơn vị hành chính cũ) vào ngày 12 tháng 02 năm 2019 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Hoàng V là hợp pháp.

Nguyên đơn bà Phạm Bích N khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết về nuôi con chung đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng V có địa chỉ cư trú tại xã N, tỉnh Tây Ninh nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:

Xét thấy bị đơn ông Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Hoàng V.

Về quan hệ hôn nhân:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà N xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài và cương quyết yêu cầu được ly hôn.

Xét thấy ông V đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, biết rõ yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng ông V không nộp văn bản thể hiện ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên có đủ căn cứ xác định ông V không quan tâm, không có thiện chí, không mong muốn giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn đoàn tụ với bà N.

Như vậy căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, lời trình bày của bà N về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà N và ông V đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung:

Bà N và ông V có 01 con chung Nguyễn Phạm Thiên K, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2021, hiện tại cháu K do ông V đang trực tiếp nuôi dưỡng. Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, bà N đồng ý giao cháu K cho ông V tiếp tục nuôi dưỡng.

Xét thấy ông V là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các con chung, tránh thay đổi môi trường sống nên cần giữ nguyên việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung như hiện tại. Ngoài ra, ông V đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, biết rõ yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng ông V không nộp văn bản thể hiện ý kiến, cũng như không từ chối việc tiếp tục nuôi dưỡng cháu K.

Do đó căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giao cho giao cho ông V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Phạm Thiên K là phù hợp, đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Văn không nộp văn bản thể hiện ý kiến hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông V không nộp văn bản thể hiện ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Bích N phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng V không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N đối với ông Nguyễn Hoàng V.

1.1. Về hôn nhân: Cho bà Phạm Bích N ly hôn ông Nguyễn Hoàng V.

1.2. Về con chung:

Giao con chung tên Nguyễn Phạm Thiên K, sinh ngày 04 tháng 9 năm 2021 cho ông Nguyễn Hoàng V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Con chung Nguyễn Phạm Thiên K hiện đang chung sống với ông Nguyễn Hoàng V.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Về án phí: Bà Phạm Bích N có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013127 ngày 24 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Bích N có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tuyên án. Ông Nguyễn Hoàng V có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

Cỡ chữ