vanban.org

Bản án 24/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Ngọc D về việc không công nhận vợ chồng đối với ông Nguyễn Quốc H.

Về hôn nhân: Không công nhận bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật T, sinh ngày 31/5/2011 (giới tính nam) cho bà Võ Ngọc D tiếp tục nuôi dạy, bà D không đặt ra yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm con chung kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị Ngọc D khởi kiện ông Nguyễn Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Ngọc D về việc không công nhận vợ chồng đối với ông Nguyễn Quốc H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 21-01-2026
V/v Tranh chấp không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quốc Văn

Ông Đặng Minh Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 21 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Ngọc D, sinh năm 1975 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trình bày của bà Võ Ngọc D:

Hôn nhân: Bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện chung sống với nhau năm 2010 có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Bà D và ông H chung sống không hạnh phúc nên bà D yêu cầu không công nhận bà và ông H là vợ chồng.

Con chung: Bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H có 01 người con chung tên Nguyễn Nhật T, sinh ngày 31/5/2011 (giới tính nam), hiện đang sống cùng ông bà. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà D xác định bà và ông H tự thỏa thuận phân chia nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

Nợ chung: Bà Võ Ngọc D xác định bà và ông Nguyễn Quốc H không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: [1.1] Bà Võ Ngọc D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông Nguyễn Quốc H có nơi cư trú tại ấp A, xã B, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [1.2] Ông Nguyễn Quốc H đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lí do, bà Võ Ngọc D xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, xét xử vắng mặt bà D, ông H theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung vụ án:

Hôn nhân: Bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc nên bà D yêu cầu không công nhận vợ chồng với ông H. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, bà D và ông H có điều kiện đăng ký kết hôn nhưng ông bà không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H là vợ chồng.

Con chung: Bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H có 01 người con chung tên Nguyễn Nhật T, sinh ngày 31/5/2011 (giới tính nam), hiện đang sống chung với vợ chồng. Khi ly hôn, bà D yêu cầu nuôi dưỡng cháu T. Xét thấy, con chung đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng sống chung với mẹ nên bà D yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung là có căn cứ chấp nhận. Bà D không đặt ra yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Ngọc D xác định bà và ông Nguyễn Quốc H tự thỏa thuận phân chia về tài sản chung không đặt ra yêu cầu xem xét. Trong quá trình giải quyết vụ án không có ai đặt ra yêu cầu gì về nợ nên không xem xét về tài sản chung, nợ chung là phù hợp.

Về án phí: Bà Võ Ngọc D phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Ngọc D về việc không công nhận vợ chồng đối với ông Nguyễn Quốc H.

Về hôn nhân: Không công nhận bà Võ Ngọc D và ông Nguyễn Quốc H là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật T, sinh ngày 31/5/2011 (giới tính nam) cho bà Võ Ngọc D tiếp tục nuôi dạy, bà D không đặt ra yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Tài sản chung: Bà Võ Ngọc D xác định bà và ông Nguyễn Quốc H tự thỏa thuận phân chia nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

Nợ chung: Bà Võ Ngọc D xác định bà và ông Nguyễn Quốc H xác định không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Ngọc D nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 24 tháng 11 năm 2025, bà D có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005216 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được đối trừ và chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ