vanban.org

Bản án 24/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Út T - Đặng Trung C"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HNGĐ-ST
Ngày 05-3-2026
Về: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh

Bà Nguyễn Thị Tùng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tín, thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 178/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXX-ST ngày 19 tháng 01 năm 2026; quyết định hoãn phiên tòa số: ngày 12/02/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Út T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số G Ô đường H, tổ B, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Trung C, sinh năm 1981; địa chỉ: Số G Ô đường H, tổ B, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 10 năm 2026 và quá trình tố tụng tại tòa bà Nguyễn Út T trình bày: Bà Nguyễn Út T và ông Đặng Trung C tự nguyện sống với nhau vào năm 2004, có tổ chức lễ cưới và có làm thủ tục kết hôn theo giấy chứng nhận đăng kí kết hôn số 86 do UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) cấp ngày 26/11/2004. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: 7 Ô H ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2025 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do thường xuyên cãi vã, sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong mọi việc. Từ những mâu thuẫn trên khiến cho tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn, không giải quyết được mâu thuẫn. Hiện tại, vợ chồng đã sống tự sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng có gặp nhau nhưng chỉ để thăm con. Nhận thấy hôn nhân này không thể tiếp tục, chung sống không còn hạnh phúc, nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Trung C.

Về con chung: Có 01 con Đặng Trung Thanh T1, sinh ngày 11/9/2005. Con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án Toà án đã triệu tập ông C đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng ông C nhiều lần vắng mặt không có lý do nên không xác định rõ yêu cầu.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.

Tại phiên xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Út T yêu cầu ly hôn ông Đặng Trung C, xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C hiện đang sinh sống tại xã L, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Đặng Trung C vắng mặt lần 2 không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung:

[] Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Út T và ông Đặng Trung C sống chung từ năm 2004, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, nay là xã L, Thành phố Hồ Chí Minh nên hôn nhân giữa bà T và ông C là hôn nhân hợp pháp. Theo xác nhận của bà T: Sau khi cưới vợ chồng sống tại nhà của cha mẹ bà đến khoảng đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn nên ông C về nhà cha mẹ ông sinh sống cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn: Bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên tự sống ly thân. Nay bà T yêu cầu được ly hôn. Về phía ông C, mặc dù đã được Tòa án thông báo đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng không có ý kiến phản hồi, chứng tỏ ông C không muốn duy trì cuộc sống chung với bà T, trên thực tế thì vợ chồng tự sống ly thân từ năm 2025 đến nay. Xét thấy, hôn nhân của 2 người lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T yêu cầu ly hôn có cơ sở, xét chấp nhận.

[] Xét về con chung: Đặng Trung Thanh T1, sinh ngày 11/9/2005. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

[] Tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 19, Điều 56. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Út T đối với ông Đặng Trung C.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Út T được ly hôn ông Đặng Trung C.

- Về con chung: Đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Út T nộp 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0035903 ngày 07-11-2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

oi hhhhhh

Cỡ chữ