vanban.org

Bản án 24/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Minh - Nguyễn Thị Tố T, Lê Thanh T"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – LĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/DS-ST
Ngày 24-3-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoài Tân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Hồng Vinh và ông Lê Chánh Ngôn;

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Duy Khánh - Thư ký Tòa án Toà án nhân dân khu vực 11 - LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - LĐ tham gia phiên toà: Ông Phan Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 24 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - LĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2026/QĐST-DS ngày 05/03/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân HM.

Địa chỉ: thôn MT, xã HTN, tỉnh LĐ.

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Xuân T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (có mặt);

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đoàn Xuân T:

- Ông Đoàn Trung H - Chức vụ: Cán bộ tín dụng Quỹ tín dụng nhân dân HM (có mặt);

Địa chỉ: thôn Minh Thành, xã HTN, tỉnh LĐ.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tố T - Sinh năm: 2002 (vắng mặt);

Ông Lê Thành T - sinh năm 1993 (có mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Minh H - sinh năm 1968 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Thôn MT, xã HTN, tỉnh LĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, người đại diện của Quỹ tín dụng nhân dân HM trình bày:

Ngày 02/4/2024, bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T có vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân HM theo Hợp đồng tín dụng số: 48/2024/HDTL với số tiền vay là: 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa nhà ở và đầu tư chăm sóc vườn thanh long. Kỳ hạn vay là 60 tháng; kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ thành 05 kỳ (ngày 02/4/2025 trả 30.000.000 đồng; ngày 02/4/2026 trả 40.000.000 đồng; ngày 02/4/2027 trả 150.000.000 đồng; ngày 02/4/2028 trả 240.000.000 đồng và ngày 02/4/2029 trả 240.000.000 đồng); kỳ hạn trả nợ lãi: trả 01/tháng vào ngày 02 hàng tháng; lãi suất cho vay trong hạn 13,4%/năm tại thời điểm ký Hợp đồng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả. Quỹ tín dụng nhân dân HM đã giải ngân cho bà Hoa và ông Tài 01 lần, ngày 02/4/2024 bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T đã ký giấy nhận nợ với Quý tín dụng nhân dân với số tiền là 700.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với thửa đất số: DD 428423, số vào sổ cấp GCN: CS 11049 do Sở tài nguyên và môi trường Bình Thuận cấp ngày 09/8/2021. Thửa đất số 380, tờ bản đồ số 39; thửa đất tọa lạc tại: thôn MT, xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận (nay là xã HTN, tỉnh LĐ) có diện tích 5.532,9 m2 là đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến ngày 01/7/2064 đứng tên ông: Lê Thành T. Việc thế chấp và nhận thế chấp được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 02/4/2024 giữa Quỹ tín dụng nhân dân HM với ông Lê Thành T tại UBND xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/09/2021; Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng đã ký kết.

Tính đến ngày 19/3/2026, bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân HM tổng số tiền, cụ thể như sau: Nợ gốc: 700.000.000 đồng; Nợ lãi: 113.366.800 đồng (trong đó lãi dư nợ trong hạn: 102.442.900 đồng, lãi dư nợ quá hạn gốc: 6.310.500 đồng và lãi chậm trả lãi: 4.613.400 đồng). Tổng cộng: 813.366.800 đồng.

Quá trình xử lý khoản vay, Quỹ tín dụng nhân dân đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay Quỹ tín dụng nhân dân, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T không thực hiện.

Vì các lẽ trên, Quỹ tín dụng nhân dân HM khởi kiện bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền. bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T kính đề nghị Quý Tòa giải quyết các nội dung sau:

- Buộc bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải thanh toán cho Quỹ tính dụng nhân dân tổng số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 19/3/2026 là: 813.366.800 đồng (Tám trăm mười ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm đồng) và tiền lãi, tiền phạt phát sinh từ ngày 20/3/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân HM.

- Trường hợp bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì Quỹ tính dụng nhân dân HM yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và tuyên phát mãi tài sản thế chấp theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 48/2024/HĐTC ngày 02/4/2024 để thanh toán tiền nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân HM.

- Buộc bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng liên quan đến vụ án.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 06 tháng 01 năm 2026, bị đơn bà Nguyễn Thị Tố T, ông Lê Thành T và tại phiên tòa ông T trình bày: Ngày 02/4/2024 vợ chồng ông có vay số tiền: 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) của Quỹ tín dụng nhân dân xã HM, thời hạn vay 60 tháng, mục đích sử dụng vốn vay: Kinh doanh tạp hóa và chăm sóc vườn thanh long; lãi suất thời điểm cho vay 13,4%/năm; kỳ hạn trả lãi 01/tháng vào ngày 02/4; kỳ hạn trả nợ gốc thành 05 kỳ (ngày 02/4/2025 trả 30.000.000 đồng; ngày 02/4/2026 trả 40.000.000 đồng; ngày 02/4/2027 trả 150.000.000 đồng; ngày 02/4/2028 trả 240.000.000 đồng và ngày 02/4/2029 trả 240.000.000 đồng). Vợ chồng ông có trả tiền lãi đầy đủ thời gian đầu, tuy nhiên đến chu kỳ thanh toán gốc 30.000.000 đồng vào ngày 02/4/2025 vợ chồng ông không trả được tiền cho Quỹ tín dụng nhân dân HM.

Nay Quỹ tín dụng nhân dân HM khởi kiện yêu cầu buộc bà và con là Lê Thành T phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân HM tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 19/3/2026 là 813.366.800 đồng (Tám trăm mười ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm đồng) trong đó nợ gốc: 700.000.000 đồng; nợ lãi: 113.366.800 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 20/3/2026 cho đến khi trả dứt nợ.

Trường hợp bà T và ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thì Quỹ tín dụng nhân dân HM được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã ký kết theo Hợp đồng thế chấp.

Ngoài ra Quỹ tín dụng nhân dân HM còn yêu cầu vợ chồng ông T phải chịu tất cả án phí và các chi phí liên quan khác. Vợ chồng ông T đồng ý chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân HM. Tuy nhiên đề nghị Quỹ tín dụng nhân dân HM cho thời gian để vợ chồng ông có thể bán đất trả nợ và cũng đề nghị Quỹ tín dụng nhân dân tiếp tục cho trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/01/2026 và ngày 18/3/2026 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh Hoa trình bày:

Bà có biết việc con trai bà và con dâu bà (ông Lê Thành T và bà Nguyễn Thị Tố T) vay Quỹ tín dụng nhân dân HM 700.000.000 đồng và bà cũng biết việc ông T và bà T thế chấp thửa đất số 380, tờ bản đồ số 39 có diện tích 5.532,9 m2 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 09/8/2021 đứng tên Lê Thành T cùng toàn bộ tài sản trên đất để vay tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân HM. Hiện nay trên thửa đất thế chấp có 01 căn nhà cấp 4 và 02 khung sắt, mái tôn của bà, nay Quỹ tín dụng nhân dân HM khởi kiện vợ chồng con bà là Lê Thành T để đòi số tiền đã vay, trong trường hợp không trả được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp thì bà đồng ý giao tài sản nếu có người mua bà và bà cũng không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Minh H cho rằng lúc vợ chồng con bà vay tiền và thế chấp tài sản để vay tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân HM thì bà không biết, chỉ khi phải trả tiền lãi thì bà mới biết. Trong trường hợp vợ chồng con bà không trả được nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân HM bà chỉ đồng ý bán căn nhà của bà nếu có người mua để cho vợ chồng con bà trả nợ tiền vay chứ bà không đồng ý cho Quỹ tín dụng nhân dân HM phát mãi tài sản thế chấp trong đó có 01 căn nhà cấp 4 và 02 khung sắt, mái tôn của bà. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì.

Vụ án được tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Qua lời khai của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân HM khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân HM tạm tính đến ngày 19/3/2026 với số tiền là: 813.366.800 đồng. Trong đón nợ gốc: 700.000.000 đồng; nợ lãi: 113.366.800 đồng (lãi dư nợ trong hạn: 102.442.900 đồng, lãi dư nợ quá hạn gốc: 6.310.500 đồng và lãi chậm trả lãi: 4.613.400 đồng) cho nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân HM là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Kể từ ngày 20/3/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ trên thì bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T còn phải chịu số tiền lãi đúng như thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký kết. Trường hợp bị đơn không trả được số tiền còn nợ nói trên, đề nghị cho Quỹ tín dụng nhân dân HM có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý số tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ nói trên, cụ thể gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với thửa đất số: DD 428423, số vào sổ cấp GCN: CS 11049 do Sở tài nguyên và môi trường Bình Thuận cấp ngày 09/8/2021. Thửa đất số 380, tờ bản đồ số 39; thửa đất tọa lạc tại: thôn MT, xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận (nay là xã HTN, tỉnh LĐ) có diện tích 5.532,9 m2 là đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến ngày 01/7/2064 đứng tên ông: Lê Thành T. Việc thế chấp và nhận thế chấp được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 02/4/2024 giữa Quỹ tín dụng nhân dân HM với ông Lê Thành T tại UBND xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/09/2021; Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

+ Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị buộc bị đơn phải trả chi phí tố tụng và án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ý kiến tranh luận, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân HM yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T. Người bị kiện là bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T có nơi cư trú tại thôn MT, xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận (nay là: thôn MT, xã HTN, tỉnh LĐ). Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 11 - LĐ đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố T có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11- LĐ vẫn tiến hành xét xử đúng quy định của pháp luật.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

3.1. Về nợ gốc: Quỹ tín dụng nhân dân HM đã cho đơn bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T vay số tiền gốc là 700.000.000 đồng (theo hợp đồng tín dụng số: 48/2024/HDTL ngày 02/4/2024 và Giấy nhận nợ ký ngày 02/4/2024). Thực hiện đúng hợp đồng Quỹ tín dụng nhân dân HM đã giải ngân đủ số tiền vay trên cho bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T, bà T và ông T đã nhận đủ tiền.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật tại khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.

3.2. Về số tiền nợ lãi: Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, (được sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định “…Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật”. Theo hợp đồng tín dụng thì Lãi suất cho vay trong hạn: được quy định cụ thể tại từng Khế ước nhận nợ; Lãi suất chậm trả lãi: Trường hợp vay không thanh toán lãi đúng hạn, thì vay phải trả lãi chậm trả cho vay theo mức lãi suất chậm trả quy định của cho vay tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không vượt quá 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi ; Lãi suất cho vay quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chậm thanh toán nợ gốc đến hạn, vay phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Xét thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng trên không trái với quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 cũng như quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng nên có hiệu lực.

Từ những nhận định trên, cần buộc bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân HM toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh, tạm tính đến ngày 19/3/2026 là: Nợ gốc: 700.000.000 đồng; Nợ lãi: 113.366.800 đồng (trong đó lãi dư nợ trong hạn: 102.442.900 đồng, lãi dư nợ quá hạn gốc: 6.310.500 đồng và lãi chậm trả lãi: 4.613.400 đồng). Tổng cộng: 813.366.800 đồng.

Theo điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Kể từ ngày 06/3/2026 bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền phải thanh toán trả Quỹ tín dụng nhân dân HM theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

3.3. Xét yêu cầu về việc xử lý tài sản bảo đảm: Toàn bộ quyền sử dụng đất của bên tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ nói trên, cụ thể gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với thửa đất số: DD 428423, số vào sổ cấp GCN: CS 11049 do Sở tài nguyên và môi trường Bình Thuận cấp ngày 09/8/2021. Thửa đất số 380, tờ bản đồ số 39; thửa đất tọa lạc tại: thôn MT, xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận (nay là xã HTN, tỉnh LĐ) có diện tích 5.532,9 m2 là đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến ngày 01/7/2064 đứng tên ông: Lê Thành T.

Xét về hình thức của hợp đồng thế chấp trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự 2015; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163. Theo đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật thi hành. về nội dung cũng như hình thức của pháp luật

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh H cho rằng lúc vợ chồng con bà vay tiền và thế chấp tài sản để vay tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân HM thì bà không biết, chỉ khi phải trả tiền lãi thì bà mới biết. Hội đồng xét xử nhận thấy tại biên bản lấy lời khai ngày 12/01/2026 và ngày 18/3/2026 bà H đều thừa nhận bà có biết việc vợ chồng con bà (ông T và bà T) vay tiền 700.000.000 đồng của Quỹ tín dụng nhân dân HM và có biết việc thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với thửa đất số: DD 428423, số vào sổ cấp GCN: CS 11049 do Sở tài nguyên và môi trường Bình Thuận cấp ngày 09/8/2021. Thửa đất số 380, tờ bản đồ số 39; thửa đất tọa lạc tại: thôn MT, xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận. Hơn nữa, sau khi biết vợ chồng ông T và bà T thế chấp tài sản nói trên để vay tiền không có khả năng trả nợ và bị Quỹ tín dụng nhân dân HM khởi kiện ra Tòa thì bà không có yêu cầu độc lập gì. Do vậy trong trường hợp nếu có xảy ra tranh chấp đối với Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 02/4/2024 giữa ông Lê Thành T và Quỹ tín dụng nhân dân HM thì bà có thể khởi kiện trong một vụ án khác.

[4] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân HM đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chí phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát khu vực 11 - LĐ là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 70; Điều 91; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 100; Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân HM:

1.1 Buộc bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân HM, tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/3/2026 là: Nợ gốc: 700.000.000 đồng; Nợ lãi: 113.366.800 đồng (trong đó lãi dư nợ trong hạn: 102.442.900 đồng, lãi dư nợ quá hạn gốc: 6.310.500 đồng và lãi chậm trả lãi: 4.613.400 đồng). Tổng cộng: 813.366.800 đồng (Tám trăm mười ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn tám trăm đồng).

Kể từ ngày 20/3/2026 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Quỹ tín dụng nhân dân HM cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân HM cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Quỹ tín dụng nhân dân HM cho vay.

1.2 Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Quỹ tín dụng nhân dân HM có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 02/4/2024 giữa Quỹ tín dụng nhân dân HM với ông Lê Thành T tại UBND xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận (nay là xã HTN, tỉnh LĐ), cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với thửa đất số: DD 428423, số vào sổ cấp GCN: CS 11049 do Sở tài nguyên và môi trường Bình Thuận cấp ngày 09/8/2021. Thửa đất số 380, tờ bản đồ số 39; thửa đất tọa lạc tại: thôn MT, xã HM, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận (nay là xã HTN, tỉnh LĐ) có diện tích 5.532,9 m2 là đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến ngày 01/7/2064 đứng tên ông: Lê Thành T.

2. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân HM số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tố T và ông Lê Thành T phải chịu 36.401.004 đồng (bằng chữ: Ba mươi sáu triệu bốn trăm linh một ngàn không trăm không bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân HM số tiền 17.310.000 đồng (Bằng chữ: Mười bảy triệu ba mười ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006120 ngày 22/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh LĐ.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ