vanban.org

Bản án 24/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 04/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Hồng T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QU N TH T N T
THÀNH PH CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24 /2025/HSST
Ngày: 04 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hu nh Th M Nhung

2. Bà Thái Ánh Trinh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Th Nhàn –Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t N t - thành ph Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông H ng Qu c Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Thông báo mở lại phiên tòa số 73/TB-TA ngày 17 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê H ng T - sinh năm 1999; Giới t nh: Nam; Nơi cư trú: Số B, tổ D, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 03/12;

Nghề nghiệp: không; Họ tên cha: Lê Hồng T1 (chết); Họ tên mẹ: Trần Thi T2 -

sinh năm 1972; Họ tên vợ: Nguyễn Thị Phương T3 - sinh năm 1999; Con có 03 người (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực L – Trại tạm giam công an tỉnh A. Có m t.

Bị hại: Võ Ngọc T4 – sinh năm 1994. V ng m t

Cư trú: Kinh V, phường C, Tp ., tỉnh An Giang.

Người làm ch ng:

Trần Hữu P – sinh năm 1995. V ng m t

Cư trú: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Dƣơng Nhân G – sinh năm 1984. V ng m t

Cư trú: khu vực T, phường M, Tp ., tỉnh An Giang.

Nguyễn Cẩm T5 – sinh năm 1982. V ng m t

Cư trú: khóm T, phường T, Tp ., tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG V ÁN:

Qua các tài liệu có trong h sơ v án và quá trình xét h i, tranh lu n tại phiên tòa, nội dung v án đư c tóm t t như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 07/5/2024, Lê Hồng T đang ở nhà tại khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thì người bạn tên N (không rõ họ, tên và địa chỉ) điện thoại nói có người chơi gian lận tại tiệm game b n cá D thuộc Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Sau khi nghe điện thoại của N, T điều khiển xe mô tô và mang 01 cây dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại đến tiệm game Dũng P1. Trên đường đi T g p người bạn tên D, T rủ D cùng đi công chuyện, D đồng ý. Sau đó, T chở D đến tiệm game b n cá Dũng P1. Khi đến nơi, T thấy ông Võ Ngọc T4 đang đi bộ ra khỏi tiệm game b n cá, Trọng nghĩ rằng T4 là người chơi game gian lận nên cầm dao rượt đuổi Tươi, được khoảng 30 đến 40 mét thì đuổi kịp. T kêu “Ê”, T4 quay lại nhìn thì T cầm dao chém ông T4 01 nhát từ trên xuống, T4 đưa tay lên đỡ nên trúng vào cổ tay trái. Sau khi gây thương t ch cho ông T4, T điều khiển xe mô tô chở D về nhà. Trên đường về nhà, T ném cây dao chém Tươi xuống sông C. Sau khi sự việc xảy ra, người dân trình báo đến Công an phường T.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 280/KL-TTCT-TTPYCT ngày 12/6/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế thành phố C, kết luận:

+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Võ Ngọc T4 tại thời điểm giám định là 12% (mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng lại Thông tư.

+ Vết thương ở vùng cổ tay trái của ông Võ Ngọc T4 phù hợp với cơ chế do vật s c gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Lê Hồng T đã bồi thường cho Võ Ngọc T4 số tiền 40.000.000 đồng; T4 đã nhận đủ số tiền không yêu cầu gì thêm; đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Hồng T. Tại Cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, truy tố Lê Hồng T về tội "C ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

* Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Hồng T từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:: Công nhận gia đình bi cáo Lê Hồng T đã bồi thường cho bị hại là ông Võ Ngọc T4 số tiền 40.000.000 đồng; ông T4 đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu gì thêm.

Về xử lý v t ch ng: Đối với cây dao bị cáo sử dụng gây thương t ch cho bị hại, do bị cáo đã ném xuống sông không thu hồi lại được nên không đề cập xử lý. -* Bị cáo nói lời

* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không nói gì.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại và những người làm chứng v ng m t, nhưng đã có lời khai rõ ràng trong điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác; sự v ng m t của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án. [3] Trong điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và qua thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 07/5/2024, Lê Hồng T có hành vi dùng dao chém gây thương t ch đối với ông Võ Ngọc T4, với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 12%. Hành vi mà Lê Hồng T thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo sử dụng con dao (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại), là công cụ có khả năng gây sát thương cao và rất nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ đối phương nếu trúng vào vùng hiểm yếu. Theo tinh thần hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003, của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, thì công cụ trên đây là hung kh nguy hiểm (Nghị quyết đã hết hiệu lực nhưng chưa có văn bản thay thế nên được xem xét vận dụng trong trường hợp này). Ngoài ra, giữa bị cáo Lê Hồng T và ông Võ Ngọc T4 không quen biết và không mâu thuẫn trước đó nhưng chỉ vì người tên N điện thoại cho T nói có người chơi gian lận tại tiệm game b n cá mà T đã đem hung kh đi tìm, và khi g p ông T4 bị cáo nghi ngờ ông T4 là người chơi game gian lận nên dùng dao chém gây thương t ch cho ông T4, bị cáo thể hiện t nh chất côn đồ. Do đó, Hành vi mà Lê Hồng T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “C ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, không những xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương. Sau khi thực hiện hành vi gây thương t ch cho ông T4, bị cáo lại có hành vi chống người thi hành công vụ ở thành phố L - tỉnh An Giang. Cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa trong xã hội như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình thỏa thuận bồi thường cho bị hại được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết này để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Đối với người tên N, tên D do chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không tiến hành làm việc được.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát nhận định và đề nghị là phù hợp; nên chấp nhận.

[7] Đối với trường hợp bị cáo Lê Hồng T bị Tòa án ở các địa phương khác xét xử, hiện chưa thu thập được Bản án hình sự có hiệu lực, nên chưa tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Khi nào có đủ căn cứ sẽ được tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[8] Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT Đ NH:

Tuyên b : Bị cáo Lê Hồng T phạm T6 “C ý gây thương tích”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Lê Hồng T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (ho c theo quyết định tổng hợp hình phạt).

2. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận gia đình bi cáo Lê Hồng T đã bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại là ông Võ Ngọc T4 số tiền 40.000.000 đồng (b n mươi triệu đ ng) xong; ông T4 không yêu cầu gì khác.

3. Về án ph : Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đ ng) án ph hình sự sơ thẩm. 4. Về kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại v ng m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM

Cỡ chữ