- Tranh chấp gì? án hình sự — "A P phạm tội: Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo A P (tên gọi khác: Không) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST. Ngày: 07/3/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Brưk và ông A Ưm.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Mạc Đức Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
A P (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 26/7/2001 tại KonTum; Nơi cư trú: Thôn P, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Pe (Đã chết) và bà Y H, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/5/2020, A P bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đến ngày 25/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống (Đã xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 19/11/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trần Minh H, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Thôn K 1, xã V, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Y H, sinh năm: 1966
Địa chỉ: Thôn P, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
Người làm chứng:
+ Anh A J, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Thôn P, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Quỳnh, sinh năm 1996.
+ Anh Lê Quang T, sinh năm 1999.
Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã H, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 25/10/2024, A P sau khi uống rượu cùng A J thì A P điều khiển xe mô tô BKS 82B1-443.18 mượn trước đó của bà Y H chở theo A J đi qua nhà bạn. Khi đến trước cửa nhà ông A S thì giữa A P và A J xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, A J bỏ đi vào trong bụi cây bên đường đi vệ sinh, còn A P do bực tức với A J nên đã nhặt 01 (Một) cây gỗ dài 1,1m, hình trụ tròn, đường kính 03cm ở gần đó và đập vào kính chắn gió phía sau xe ô tô biển kiểm soát 82A-142.33; Loại xe Huyndai Creata màu đỏ của ông Trần Minh H đang đậu trước nhà làm vỡ nát kính chắn gió phía sau xe. Sau khi đập kính xe ô tô của ông H xong, A P ném cây gậy gỗ xuống lề đường rồi đi vào nhà gặp ông H để thừa nhận hành vi đập phá tài sản nhưng do thấy A P có dấu hiệu say xỉn nên ông H đóng cửa nhà lại. Sau đó, A J điều khiển xe mô tô chở A P đi về nhà tại thôn Plei Đôn, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum. Sau khi sự việc xảy ra, ông H đã đến Công an xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum trình báo sự việc.
Tại bản Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản – UBND thành phố Kon Tum kết luận:
Giá trị tài sản của 01 (Một) kính hậu đã bị đập bể của xe ô tô biển số 82A-142.33; Loại xe HUYNDAI; Model: SU2ID-CKD; Số loại: CREATA 1.5 MPI; Số khung: RLUPA812ERT007265; Số máy: G4FLRQ334234, màu đỏ được đăng ký vào ngày 07/9/2024. Thời gian sử dụng tài sản từ ngày đăng ký đến ngày phát hiện hư hỏng (từ ngày 07/9/2024 đến ngày 25/10/2024) là 01 tháng.
+ Tỷ lệ tính hao mòn: 6,67%/năm = 0,56%/tháng.
+ Tỷ lệ hao mòn qua sử dụng: 5,56%/tháng * 01 tháng = 0,56%.
+ Tỷ lệ còn lại theo quy định: 100% - 0,56% = 99,44%.
Giá trị của các bộ phận hư hỏng tính đến thời điểm tháng 10/2024 là: 5.825.400 đồng * 99,44% = 5.792.777 đồng (làm tròn: 5.793.000 đồng)
Tổng giá trị tài sản định giá là 5.793.000 đồng (Năm triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn đồng).
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum đã tiến hành xử lý vật chứng: Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp ông Trần Minh H 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI Creata, màu đỏ; Trả lại bà Y H 01 (Một) xe mô tô biển số 82B1-443.18.
Đối với 01 (Một) cây gỗ dài 1,1 mét, hình trụ tròn, đường kính 03cm chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum bảo quản theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo A P đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho ông Trần Minh H số tiền 5.793.000 đồng, ông H không có yêu cầu gì thêm.
- Bà Y H bồi thường thay cho bị cáo số tiền 5.793.000 đồng không yêu cầu bị can A P phải trả lại số tiền nói trên.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSTPKT ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo A P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố KonTum vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo A P từ 12 đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cây gỗ dài 1,1 mét, hình trụ tròn, đường kính 03cm là công cụ phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết, nên không đề cập.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung của vụ án: Trên cơ sở lời khai của bị cáo và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 25/10/2024, A P và A J sau khi uống rượu với nhau, thì giữa A P và A J đã xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, A J bỏ đi vào trong bụi cây bên đường đi vệ sinh, còn A P do bực tức với A J nên đã nhặt 01 (Một) cây gỗ dài 1,1m, hình trụ tròn, đường kính 03cm ở gần đó và đập vào kính chắn gió phía sau xe ô tô biển kiểm soát 82A-142.33 của ông Trần Minh H tại thôn Kon Rờ Bàng 1, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum đang đậu trước nhà gây hư hỏng tài sản với giá trị 5.793.000 đồng (Năm triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn đồng). Hành vi của bị cáo A P đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo A P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố, việc đưa bị cáo ra xét xử là hoàn toàn cần thiết.
. Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 21/5/2020, bị cáo A P bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đến ngày 25/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống (Đã xóa án tích).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Giữa bị cáo và bị hại ông Trần Minh H không quen biết và không có mâu thuẫn gì với nhau, nhưng chỉ vì bực tức chuyện nhỏ nhặt với A J mà bị cáo đã vô cớ dùng cây gậy đập bể kính chắn gió phía sau xe ô tô của ông H, thể hiện sự hung hăng, côn đồ xem thường pháp luật, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 5.793.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo A P đã từng bị kết án, sau khi ra tù không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo A P là người có thu nhập không ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo A P đã tác động bà Y H ( Là mẹ đẻ bị cáo) bồi thường thiệt hại cho ông Trần Minh H số tiền 5.793.000 đồng, ông Trần Minh H không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập.
Bà Y H không yêu cầu bị cáo A P phải trả lại số tiền bà đã bồi thường thay cho bị cáo, nên không xem xét.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 (Một) cây gỗ dài 1,1 mét, hình trụ tròn, đường kính 03cm là công cụ phạm tội, cần tịch, tiêu hủy
. Các tình tiết khác của vụ án: Đối với A J là người đi cùng và có mâu thuẫn với A P dẫn đến việc A P thực hiện hành vi đập phá tài sản của người khác. Tuy nhiên, A J không xúi dục, kích động hay bàn bạc với A P về việc đập kính xe ô tô của ông Trần Minh H. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với A J là có căn cứ.
Đối với bà Y H là chủ sở hữu xe mô tô biển số 82B1-443.18 (Xe mua của bà Nguyễn Thanh T). Khi A P mượn xe mô tô của bà Y H đi thì bà Y H không biết việc A P sử dụng xe mô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không xem xét xử lý đối với bà Y H là có căn cứ.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo A P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo A P (tên gọi khác: Không) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo A P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 19/11/2024.
3.Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cây gỗ dài 1,1 mét, hình trụ tròn, đường kính 03cm như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo A P phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/3/2025) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSNDTP; - Công an tỉnh KT; - Thi hành án dân sự TP; - Bị cáo; -Bị hại; - Người có ql, nv liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |