vanban.org

Bản án 24/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bùi Văn H phạm tội "Cướp tài sản".

Xử phạt: Bùi Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Bùi Văn H - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Văn H phạm tội "Cướp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST
Ngày 31/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Hoa

Ông Phan Văn Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Duy –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn H, Tên gọi khác: không;Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/5/1997, tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Con ông Bùi Văn S (đã chết) và bà Trần Thị Y; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

Tiền án: có 02 tiền án, gồm:

+ Bản án số 486/2015/HSST, ngày 27/11/2015, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt Bùi Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành án tại Trại giam X, đến ngày 28/8/2016 chấp hành xong bản án (chưa được xóa án tích).

+ Bản án số 70/2017/HSST, ngày 26/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành án tại Trại giam Đ, đến ngày 09/4/2024 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

+ Bản án số 94/2014/HSST, ngày 26/12/2014 Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên).

+ Bản án số 83/2016/HSST, ngày 29/7/2016 Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An miễn trách nhiệm hình sự cho Bùi Văn H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà bị cáo đã thực hiện vào ngày 01/7/2014.

Bị bắt tạm giam từ ngày 27/11/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.

- Bị hại: Chị Phạm Linh P, sinh ngày 13/3/2007; Nghề nghiệp: Học sinh Trường cao đẳng K; Trú tại: thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: thôn P, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng 21/11/2024, Bùi Văn H điều khiển xe mô tô Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 37N1 – 328.41 từ thành phố V vào thành phố H với mục đích tìm người sơ hở để chiếm đoạt tài sản. Khi đi H mang theo 01 con dao rọc giấy là đồ nghề H sử dụng để đi làm hàng ngày, trên đường đi H dừng xe rồi tháo biển số cất vào cốp xe. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi điều khiển xe đi trên tuyến đường đê H thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (theo hướng từ Thạch B ra Cầu P) thì gặp chị Phạm Linh P đang điều khiển xe máy điện nhãn hiệu XMen đi ngược chiều, H liền hỏi chị P đường để ra đường quốc lộ, chị P đáp đi thẳng rồi rẻ phải là đến đường quốc lộ. Sau khi hỏi đường H tiếp tục điều khiển xe đi tiếp 1 đoạn, nhận thấy chị P đi một mình xung quanh là cánh đồng không có người nên H nảy sinh ý định cướp tài sản của chị P. H quay xe lại đuổi theo ép sát xe chị P vào sát lề đường, H giả vờ hỏi “ra đường quốc lộ thì rẽ phải hay rẽ trái chị” đồng thời H xuống xe. Chị P trả lời “ra đó rẽ phải” và tăng ga để tiếp tục đi thì H chạy lên phía trước chặn đầu xe, dùng tay trái nắm cổ áo kéo ngã chị P xuống đường, đồng thời dùng đầu gối ép vào phía lưng của chị P và dùng tay phải lấy con dao rọc giấy từ trong túi quần ra dùng ngón tay đẩy lưỡi dao lên xuống tạo ra tiếng kêu “tạch, tạch, tạch…” dơ trước mặt đe dọa. Chị P hoảng loạn, ngồi co người hai tay ôm trước ngực, khóc và liên tục nói “em xin anh, em học sinh em không có chi cả”. Nghe chị P khóc van xin, H quát và đe dọa “mi câm mồm, mi mà hét nữa tau giết mi, đưa tiền đây”. Bùi Văn H liên tục đòi tiền và đe dọa nên chị P lấy trong túi áo phía trước 390.000 đồng đưa cho H. Sau khi chiếm đoạt được tiền H bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe tẩu thoát theo hướng Quốc lộ A chạy về thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-TPHT ngày 27/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Bùi Văn Hùng về tội "Cướp tài sản" theo điểm d, h khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm d, h khoản 2 điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Bùi Văn H từ 08 đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) dao loại dao rọc giấy, cán dao làm bằng nhựa, màu xanh da trời, chiều dài cán dao 12 cm, trên đó có ghi dòng chữ “mfg DRG-108”, lưỡi dao bằng kim loại dài 10 cm.

Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo là thống nhất và phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đầy đủ chứng cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/11/2024, tại khu vực đường Đ, thuộc xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Bùi Văn H có hành vi dùng vũ lực, sử dụng dao rọc giấy bằng kim loại đe dọa chiếm đoạt của chị Phạm Linh P 390.000 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

[3] Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”,“Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “bị hại xin giảm nhẹ hình phạt” quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo có nhân thân rất xấu. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thích đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại nên khi lượng hình xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

[5] Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị phạt bổ sung phạt tiền, phạt quản chế, cấm cư trú hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Xét luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, về mức án là phù hợp.

[7] Đối với chị Bùi Thị N là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 37N1 - 328.41. Tuy nhiên, chị Bùi Thị N không biết Bùi Văn H sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi cướp tài sản, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Linh P sau khi nhận lại số tiền 390.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, miễn xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

[9.1] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ đen bạc, biển kiểm soát 37N1 – 328.41, số khung RLHJA3911KY224560, số máy JA39E1083567, xe cũ đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 37 008564 do Công an huyện T cấp ngày 18/8/2022, tên chủ xe Bùi Thị N, biển số đăng ký 37N1-328.41 tại anh Bùi Văn H và trả lại cho chị Bùi Thị N là phù hợp.

[9.2] 01 (một) dao loại dao rọc giấy, cán dao làm bằng nhựa, màu xanh da trời, chiều dài cán dao 12 cm, trên đó có ghi dòng chữ “mfg DRG-108”, lưỡi dao bằng kim loại dài 10 cm là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy.

[10] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố: Bùi Văn H phạm tội "Cướp tài sản".

Xử phạt: Bùi Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) dao loại dao rọc giấy, cán dao làm bằng nhựa, màu xanh da trời, chiều dài cán dao 12 cm, trên đó có ghi dòng chữ “mfg DRG-108”, lưỡi dao bằng kim loại dài 10 cm.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Bùi Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ