- Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả giấy tờ - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Chí L phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 29-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để và ông Lưu Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thư - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Toà án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Huỳnh Chí L, sinh ngày 15/12/1987, tại A, Kiên Giang; CCCD số: 091087014584; Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã A, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã A, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Ngọc D và bà Phan Thị T; Có vợ và 02 người con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty B. Đại diện là Công ty B1; địa chỉ: Số A M, phường R, tỉnh An Giang.
Bị cáo có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 06/9/2024, Trung tâm Y tế huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là Trung tâm Y tế A, tỉnh An Giang) tiếp nhận Công văn số 385, ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Công ty B1 về việc rà soát xác nhận chữ ký bác sĩ của Trung tâm Y tế huyện A, tỉnh Kiên Giang có trong hồ sơ thanh toán nằm viện của bệnh nhân Nguyễn Thị H và Châu Thị C.
Đến ngày 09/9/2024, Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện A, tỉnh Kiên Giang rà soát các trường hợp có liên quan và nghi vấn 02 trường hợp giả mạo chữ ký bác sĩ, giả mạo con dấu của Trung tâm Y tế huyện A nên báo Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang phối hợp kiểm tra xác minh.
Kết quả điều tra xác định như sau: Phòng G chi nhánh huyện A thuộc Công ty B1 có 6 nhân sự gồm: Ông Trần Hải  - Phó giám đốc Công ty K Trưởng phòng giao dịch số 9 Công ty B1, ông  phụ trách chung; ông Huỳnh Chí L - Phó phòng trực tiếp xử lý tiếp nhận hồ sơ, lập hồ sơ, duyệt chứng từ thanh toán bồi thường, quản lý các đại lý bán bảo hiểm, kiêm thủ quỹ phòng giao dịch; bà Võ Bích N là kế toán của Phòng giao dịch; còn lại 03 đại lý là bà Võ Thị Tuyết T1, ông Lê Trung Đ và ông Trần Văn L1 công việc là làm đại lý, tìm kiếm khách hàng, bán bảo hiểm. Cuối năm 2024, Công ty B1 rà soát đối chiếu các hồ sơ thanh toán bảo hiểm phát hiện 02 hồ sơ thanh toán có biểu hiện làm giả giấy ra viện gồm: Giấy ra viện mang tên Nguyễn Thị Hoàng mã S lưu trữ 81300923001294/K03 ký ngày 13/10/2023 lập hồ sơ thanh toán 940.000 đồng; Giấy ra viện mang tên Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11 trên hồ sơ thanh toán số tiền 780.000 đồng. Nhận thấy Huỳnh Chí L có biểu hiện sai phạm trong quá trình công tác và thanh toán chi phí bồi thường nên Công ty B1 đã cho Huỳnh Chí L thôi việc, chuyển hồ sơ trên đến Trung tâm Y tế huyện A đối chiếu giấy ra viện và chữ ký của bác sĩ và hồ sơ bệnh án lưu trữ, phát hiện chữ ký và giấy ra viện trên có dấu hiệu bị làm giả nên Trung tâm Y tế huyện A chuyển hồ sơ đến Công an huyện A đề nghị xác minh làm rõ.
Tại Cơ quan Công an điều tra Huỳnh Chí L khai nhận: Huỳnh Chí L làm việc tại Phòng G thuộc Công ty B1 trụ sở thuộc Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang từ năm 2008 đến năm 2024. Công việc của bị cáo Huỳnh Chí L phụ trách là quản lý khai thác tức là quản lý các đại lý bán bảo hiểm trên địa bàn huyện gồm anh: Lê Trung Đ, Trần Văn L1, Võ Thị Tuyết T1 là các đại lý chuyên nghiệp.
Theo quy định của Công ty B1 nếu như các chứng từ thanh toán bồi thường cho khách hàng dưới 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thì Huỳnh Chí L có thẩm quyền duyệt chi thanh toán, không cần thông qua Phòng bồi thường của Công ty B1. Đến cuối tháng do số liệu bồi thường khách hàng còn chênh lệch so với chỉ tiêu nên Huỳnh Chí L nảy sinh ý định làm giả chứng từ thanh toán bồi thường để bù vào và hưởng lợi tiền từ khoảng này của Công ty B1. Bị cáo Huỳnh Chí L đã đặt làm giả giấy ra viện của bệnh nhân và làm giả 02 hồ sơ thanh toán. Cụ thể, từ hồ sơ thanh toán thật của khách hàng Nguyễn Thị H và Châu Thị C, Huỳnh Chí L đã lấy thông tin của khách hàng và giấy ra viện của 02 bệnh nhân trên trong hồ sơ thanh toán thật, sau đó L lên mạng xã hội Facebook vào các trang làm giả giấy tờ và cung cấp thông tin của bệnh nhân, mẫu giấy ra viện có chữ ký của bác sĩ để đặt làm giả giấy ra viện của 02 bệnh nhân mang tên Nguyễn Thị Hoàng mã S lưu trữ 81300923001294/K03 ký ngày 13/10/2023 để lập hồ sơ thanh toán 940.000 đồng (Chín trăm bốn mươi nghìn đồng); Giấy ra viện mang tên Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11 trên hồ sơ thanh toán số tiền 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Huỳnh Chí L khai nhận đặt làm giả 02 giấy ra viện trên với giá mỗi giấy là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi đặt xong thì khoảng 03 đến 04 ngày sau thì có shipper điện thoại giao trực tiếp cho Huỳnh Chí L, L hẹn nhận giấy tờ giả tại đường Hành Lang ven biển phía nam (L) thuộc khu phố C, thị trấn T Một. Khi nhận xong 02 giấy ra viện thì Huỳnh Chí L lập hồ sơ thanh toán rồi tự duyệt chi nộp về Phòng bồi thường của Công ty. Trong đó, hồ sơ thanh toán mang tên Nguyễn Thị H, lùi thời gian thanh toán vào ngày 06/11/ 2023, thanh toán số tiền 940.000 đồng; hồ sơ mang tên Châu Thị C thanh toán ngày 27/8/2024 số tiền 780.000 đồng, rồi L tổng hợp cùng nhiều hồ sơ thanh toán năm 2024 nộp về Công ty B1 đối chiếu thì bị phát hiện.
Công ty B1 và Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án gồm: 01 giấy ra viện mang tên Nguyễn Thị Hoàng mã S lưu trữ 81300923001294/K03 ký ngày 13/10/2023 (bản gốc); 01 Giấy ra viện mang tên Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11 (bản phô tô) ký ngày 07/7/2024; 01 bộ hồ sơ thanh toán bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Hoàng số lưu trữ 3348322 KHCN; 01 bộ hồ sơ thanh toán bảo hiểm mang tên Châu Thị C số lưu trữ 3932069 KHCN và tiến hành giám định tài liệu vật chứng thu giữ đối với Giấy ra viện tên người bệnh Nguyễn Thị H do L làm giả, kết quả như sau:
Tại Kết luận giám định số: 156/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh A) kết luận như sau:
1. Chữ ký mang tên Mạc Hùng T2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang tên Mạc Hùng T2 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một người ký ra.
2. Chữ ký mang tên Trần Văn C1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang tên Trần Văn C1 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M5 đến M9 không phải do cùng một người ký ra.
Tại Kết luận giám định số: 157/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh A) kết luận như sau:
Hình dấu tròn màu đỏ mang nội dung “TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN AN MINH- SỞ Y TẾ TỈNH KIÊN GIANG” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Đối với 01 Giấy ra viện mang tên người bệnh Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11 (bản phô tô) ký ngày 07/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu được bản gốc mà chỉ thu được bản phô tô nên Cơ quan giám định không đủ căn cứ để giám định.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ những vật chứng gồm: 02 (hai) giấy ra viện mang tên Nguyễn Thị Hoàng mã S lưu trữ 81300923001294/K03 ký ngày 13/10/2023 (bản gốc); 01 Giấy ra viện mang tên Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11 (bản phô tô) ký ngày 07/7/2024; 01 bộ hồ sơ thanh toán bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Hoàng số lưu trữ 3348322 KHCN; 01 bộ hồ sơ thanh toán bảo hiểm mang tên Châu Thị C số lưu trữ 3932069 KHCN.
- Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSKV7 ngày 25-8-2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 truy tố Huỳnh Chí L về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức, được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên kết luận bị cáo Huỳnh Chí L phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức, được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Chí L từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Chí L đã nộp trả lại cho Công ty B1 số tiền 1.720.000 (Một tiệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng. Công ty B1, Trung tâm y tế huyện A (Nay là Trung tâm y tế A), bác sĩ Mạc Hùng T2, bác sĩ Trần Văn C1 và Châu Thị C, Nguyễn Thị H không có yêu cầu bồi thường gì khác.
+ Về vật chứng đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
- Bị cáo L trình bày: Do bị cáo làm thất lạc hồ sơ của khách hàng nên nghĩ cách khắc phục hồ sơ cho đầy đủ, thiếu suy nghĩ về hậu quả mới đặt làm giả giấy tờ chứ không có mục đích thu lợi chiếm đoạt tiền của Công ty. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc làm của mình. Bị cáo xin xem xét xử mức án thấp nhất, xin xử hình thức phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội, tội danh:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng tháng 9 năm 2024, bị cáo Huỳnh Chí L lên mạng xã hội Facebook để đặt làm giả giấy tờ của bệnh nhân và mẫu giấy ra viện có chữ ký của bác sĩ. Một giấy ra viện mang tên Nguyễn Thị Hoàng mã S lưu trữ 81300923001294/K03 của Trưởng khoa tên bác sỹ Trần Văn C1 ký ngày 13/10/2023, để lập hồ sơ thanh toán 940.000 đồng; Một giấy ra viện mang tên Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11, để lập hồ sơ thanh toán số tiền 780.000 đồng (do không thu được bản gốc, không có cơ sở để giám định) của Công ty B1 - Chi nhánh tại huyện A thì bị phát hiện.
Bị cáo Huỳnh Chí L là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã đặt làm giả giấy tờ của cơ quan, tổ chức để thanh toán tiền bảo hiểm; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Chí L đã phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức, được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Công ty B1, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
Về vật chứng, các giấy tờ làm giả tịch thu theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Chí L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Đối với người trực tiếp làm giả giấy ra viện cho bị cáo Huỳnh Chí L, chưa có cơ sở điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra tiếp tục thẩm tra xác minh khi nào làm rõ đề xuất xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Chí L phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức.
Căn cứ khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Chí L 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Huỳnh Chí L cho Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
2- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu lưu hồ sơ vụ án các giấy tờ giả do bị cáo đặt trên mạng xã hội, gồm: 02 (hai) giấy ra viện mang tên Nguyễn Thị Hoàng mã S lưu trữ 81300923001294/K03 ký ngày 13/10/2023 (bản gốc); 01 Giấy ra viện mang tên Châu Thị C mã số lưu trữ 81300922000670/K11 (bản phô tô) ký ngày 07/7/2024; 01 bộ hồ sơ thanh toán bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Hoàng số lưu trữ 3348322 KHCN; 01 bộ hồ sơ thanh toán bảo hiểm mang tên Châu Thị C số lưu trữ 3932069 KHCN.
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Huỳnh Chí L chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29-9-2025) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKS khu vực 7; - Tòa án tỉnh An Giang; - Công an xã An Minh; - Phân trại tạm giam khu vực An Minh; - Phòng THADS khu vực 7; - Bị cáo; Người liên quan; - Sở TP tỉnh AG; - UBND xã An Minh, AG; - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Trường Hận |