- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn V - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn V phạm tội “ Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 09-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bàn Văn Tiển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Đào;
Bà Chu Thị Xuyến.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Lý Văn V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 23 tháng 4 năm 1984 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn B (đã chết) và bà Chu Thị X (đã chết); có vợ: Lương Thị D; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/3/2025 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 26/02/2025, Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn nhận được tin của quần chúng nhân dân báo tại khu vực bãi đất thuộc địa phận khu T, thị trấn T, huyện T có một người đàn ông đang sử dụng súng hơi để săn bắn chim. Sau khi nhận được tin, Công an thị trấn T đã cử lực lượng đến nơi xảy ra sự việc phát hiện, áp sát đối tượng nhưng đối tượng đã bỏ chạy và vứt súng lại hiện trường. Qua xác minh xác định người đàn ông trên là Lý Văn V, sinh năm 1984, trú tại: Khu N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác đã thu giữ khẩu súng và lập biên bản sự việc làm căn cứ xử lý theo quy định.
Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 27/02/2025, Lý Văn V đến trụ sở Công an thị trấn T, huyện T trình báo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 12/3/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Lý Văn V về tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng quy định tại khoản 1, Điều 304 Bộ luật Hình sự để điều tra.
Quá trình điều tra xác định được: Khoảng tháng 02/2024, Lý Văn V sử dụng điện thoại di động truy cập vào mạng xã hội Facebook thấy nhóm Mua bán đồ cũ có tài khoản đăng bài bán 01 khẩu súng hơi (súng khí nén) màu đen, nhãn hiệu “AIRFORCE-R0001 Made in USA” kích thước 92cm x 23cm. V đã liên hệ với người này và cả hai thỏa thuận 01 khấu súng và 10 viên đạn đi kèm có giá là 2.900.000 đồng, sau đó V cung cấp địa chỉ cho người này gửi về theo hình thức giao hàng thu tiền (Ship COD). Việc giao hàng này được chia thành 03 lần cụ thể: Lần 1, V nhận ống ngắm, tay cầm bằng nhựa, thanh toán 900.000 đồng; lần 2 nhận bình khí nén, ống giảm thanh, thanh toán 800.000 đồng; lần 3 nhận nòng súng, khung nòng và 10 viên đạn chì hình nấm, thanh toán 1.200.000 đồng. Sau khi nhận được đầy đủ linh kiện, V lắp ráp theo hướng dẫn của người bán sau đó sử dụng 01 viên đạn để bắn thử thấy súng hoạt động bình thường rồi cho khẩu súng và đạn vào 01 ba lô màu xám cất giấu tại chuồng gà của gia đình. Khoảng 09 giờ, ngày 26/02/2025, Lý Văn V mang khẩu súng và 09 viên đạn này đến khu bãi đất thuộc thôn T, thị trấn T, huyện T để bắn chim, khi Viên đang ngắm bắn thì bị tổ công tác Công an thị trấn T phát hiện.
Khẩu súng và đạn thu giữ được, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 06/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:
“- Khẩu súng màu đen dài 92 cm gửi giám định là vũ khí quân dụng, thuộc Phụ lục I "Danh mục vũ khí quân dụng" của Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ Công an. Hiện tại, khẩu súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
- 09 (chín) viên đạn gửi giám định đều là đạn quân dụng, thuộc Phụ lục I "Danh mục vũ khí quân dụng" của Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ Công an và có thể sử dụng để bắn cho khẩu súng gửi giám định” .
Tại Công văn số 258/PC09 ngày 15/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp đánh giá, bổ sung kết quả giám định: “… Trước đó, từ ngày 01/7/2018 đến ngày 31/12/2024, việc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được áp dụng theo Luật số 14/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Theo khoản 3, Điều 3, Luật số 14/2017QH14, khẩu súng dài 92cm và 09 viên đạn gửi giám định nói trên đều thuộc súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng; các bộ phận tách rời của khẩu súng này đều không thuộc vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng”.
Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSLS-P2 ngày 16/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lý Văn V về tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toản bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lý Văn V phạm tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
1. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 36 tháng đến.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Đối với khẩu súng có nhãn hiệu "AIRFORCE - R0001 Made in USA", Cơ quan điều tra đã phối hợp với Cục Quân khí thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng; Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội, Bộ Công an; Cục Trang bị và Kho vận, Bộ Công an xác minh nguồn gốc của khẩu súng trên, kết quả: “Khẩu súng này không có trong cơ sở dữ liệu quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý, cấp phát”. Do vậy Cơ quan điều tra không xác định được nguồn gốc. Hiện Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Quyết định số: 24/QĐ-BCH ngày 09/4/2025 của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.
Tịch thu tiêu hủy 01 túi balo màu xanh in logo của Công ty TNHH Thương Mại V.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng tháng 02/2024, bị cáo Lý Văn V lên mạng xã hội Facebook đặt mua 01 khẩu súng khí nén và 10 viên đạn sau đó bắn thử 01 viên rồi cất giấu tại nhà. Ngày 26/02/2025, bị cáo mang súng và đạn đến khu bãi đất thuộc thôn T, thị trấn T, huyện T để bắn chim thì bị lực lượng chức năng phát hiện. Khẩu súng và đạn thu giữ được, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 06/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:“- Khẩu súng màu đen dài 92 cm gửi giám định là vũ khí quân dụng, thuộc Phụ lục I "Danh mục vũ khí quân dụng" của Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ Công an. Hiện tại, khẩu súng vẫn còn sử dụng để bắn được và 09 (chín) viên đạn gửi giám định đều là đạn quân dụng, thuộc Phụ lục I "Danh mục vũ khí quân dụng" của Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ Công an và có thể sử dụng để bắn cho khẩu súng gửi giám định”. Tuy nhiên tại Công văn số 258/PC09 ngày 15/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp đánh giá, bổ sung kết quả giám định: “… Trước đó, từ ngày 01/7/2018 đến ngày 31/12/2024, việc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được áp dụng theo Luật số 14/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Theo khoản 3, Điều 3, Luật số 14/2017QH14, khẩu súng dài 92cm và 09 viên đạn gửi giám định nói trên đều thuộc súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng; các bộ phận tách rời của khẩu súng này đều không thuộc vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng”.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến quy định độc quyền của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lý Văn V phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng mà cụ thể súng quân dụng gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét đến nhân thân, mục đích, động cơ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để cá thể hóa hình phạt đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự bản thân bị cáo hiến đất để làm đường nông thôn và ủng hộ 1.000.000 đồng cho Khu T làm đường nông thôn. Ngoài ra bị cáo có ông cụ nội là Lý Văn N được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, mẹ vợ là bà Lương Thị B được Hội Cựu giáo chức tặng nhiều giấy khen và nhiều kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng và phát triển hội cựu giáo chức Việt Nam và bố vợ là ông Lương Văn C được tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng ba đã có công lao trong cuộc kháng chiến, trong hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 26/02/2025, bị cáo Lý Văn V đem súng và đạn đi bắn chim, khi bị lực lượng chức năng phát hiện, bị cáo V đã để lại súng và đạn tại địa điểm và bỏ chạy thoát. Ngày 27/02/2025, bị cáo V đến trụ sở công an thị trấn T để khai báo về hành vi của bản thân. Tuy Công an thị trấn T không lập biên bản tiếp nhận người đầu thú, nhưng việc bị cáo tự mình đến cơ quan chức năng để trình diện đáng để được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo có khả năng tự cải tạo, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nên việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, mặt khác bị cáo cũng không thuộc trường hợp không được hưởng án treo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 2, Điều 3 của Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (Văn bản hợp nhất 02/VBHN-TANDTC 2022 của Tòa án nhân dân Tối cao ngày 07-9- 2022) cho bị cáo hưởng án treo là cũng đủ để giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo, nhân văn của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với người phạm tội đã thật sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng.
Xử lý vật chứng: Đối với khẩu súng có nhãn hiệu "AIRFORCE - R0001 Made in USA", Cơ quan điều tra đã phối hợp với Cục Quân khí thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng; Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội, Bộ Công an; Cục Trang bị và Kho vận, Bộ Công an xác minh nguồn gốc của khẩu súng trên, kết quả: “Khẩu súng này không có trong cơ sở dữ liệu quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý, cấp phát”. Do vậy Cơ quan điều tra không xác định được nguồn gốc. Hiện Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Quyết định số: 24/QĐ-BCH ngày 09/4/2025 của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn; Tịch thu tiêu hủy 01 túi balo màu xanh in logo của Công ty TNHH Thương Mại V.
Đối với người đàn ông bán 01 khẩu súng và 10 viên đạn cho bị cáo Lý Văn V vào năm 2024, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người này, không nhớ tài khoản Facebook đã rao bán. Do không có đủ thông tin nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với nhân viên chuyển phát nhanh đã giao các linh kiện súng và đạn, bị cáo V khai không biết họ tên, địa chỉ, không nhớ biển kiểm soát xe mô tô, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với điện thoại di động do Lý Văn V liên lạc để mua súng, đạn. Bị cáo khai nhận đã bị mất từ khoảng cuối tháng 01/2025, không xác định được thời điểm và vị trí, do vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được điện thoại trên.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án do phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn V phạm tội “ Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Văn V 01 (một) năm tù 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn giám sát giáo dục trong thời hạn thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc bị xử lý theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
4. Về vật chứng:
4.1. Tịch thu và tiếp tục giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn xử lý các vật chứng theo quy định của pháp luật đối với khẩu súng có nhãn hiệu „„AIRFORCE - R0001 Made in USA‟‟ và 09 (chín) viên đạn chì súng hơi hình nấm. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Quyết định số: 24/QĐ-BCH ngày 09/4/2025 của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn.
4.2. Tịch thu tiêu hủy 01 túi balo màu xanh in logo của Công ty TNHH Thương Mại V.
(Vật chứng nêu trên tại mục (4.2) đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lậng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).
5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định; - Công an tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THA DS huyện Tràng Định; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Tiển |