- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn V vận chuyển trái phép HH qua BG - phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điều 189 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Mai Văn V 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Long An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST. Ngày 03/4/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Kỳ Trung;
Bà Dương Thị Mỹ Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Văn V, sinh năm 1998, tại tỉnh Long An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp BT, xã ĐH, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn I và bà Nguyễn Thị G; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Nh, sinh năm 1979; cư trú tại: ấp B, xã MQT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Thành Ph, sinh năm 1997; cư trú tại: ấp H, xã MTB, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; vắng mặt.
2/ Anh Hoàng Kim H, sinh năm 1992; cư trú tại: ấp H2, xã MQT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn V là tài xế chạy xe ô tô tải thuê cho bà Trần Thị Nh. Công việc hàng ngày của V vào buổi sáng sẽ chở gạch men, hàng tạp hóa, ban đêm chở nước đá đi giao cho các tiệm tạp hóa, quán cà phê cùng với Nguyễn Thành Ph và Hoàng Kim H. Vào khoảng 17 giờ ngày 11/8/2023, sau khi V điều khiển xe ô tô tải biển số 62C - 005.62 chở gạch men đi giao cho khách tại xã MQĐ, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì có một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) đến gặp thuê V vận chuyển đường cát và bia có nguồn gốc từ Campuchia nhập lậu vào Việt Nam từ trong đường nhỏ tại khu vực biên giới giáp Campuchia ra đường lớn để sang qua xe khác đem đi tiêu thụ với tiền công 500.000 đồng thì V đồng ý. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, V điều khiển xe ô tô tải biển số 62C
- 005.62 đến điểm hẹn tại khu vực cầu Gò Ngãi thuộc ấp BQ, xã PB, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khi đến khu vực đồng ruộng tại ấp 4, xã MQT, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì V dừng xe lại lấy băng keo đen đã chuẩn bị sẵn dán để thay đổi biển số xe ô tô tải thành 20 - 005.62 và tiếp tục điều khiển xe ô tô tải đến rước H và Ph. Đến khu vực cầu GN, V gặp một người đàn ông Campuchia, khoảng 50 tuổi, điều khiển xe mô tô Dream màu đỏ (không rõ biển số) dẫn đường chạy vào đường bờ kênh được một đoạn khoảng 600 mét thì người đàn ông trên kêu V để H và Ph xuống xe, khi nào chất hàng xong thì quay lại rước. Khi Hùng, Phát xuống xe thì V tiếp tục điều khiển xe ô tô tải chạy khoảng 400 mét đến bãi đất trống thì dừng lại, người đàn ông Campuchia kêu V xuống xe rồi đi bộ ngược ra hướng đường nhựa khoảng 200 mét đứng đợi để người khác vận chuyển đường cát và bia Campuchia đến chất lên xe ô tô tải, khi nào chất xong sẽ ra kêu. Trong lúc đợi, V nhìn thấy có nhiều người đội đèn pin trên đầu điều khiển xe máy cày và xe ba gác chở đường cát và bia Campuchia hướng từ biên giới Campuchia sang Việt Nam rồi chất lên xe ô tô tải. Khoảng 30 phút sau, người đàn ông Campuchia đi ra kêu V vào điều khiển xe ô tô tải chạy đi. V đến kiểm tra thì thấy trên xe ô tô tải được chất 120 bao đường cát nhãn hiệu “CAMBODIA WHITE SUGER” và 30 thùng bia nhãn hiệu “GOLD CROWN BEER” rồi điều khiển xe ô tô tải chạy theo người đàn ông ra ngoài đường lớn. Lúc này, V điều khiển xe ô tô tải biển số 62C - 005.62, chỉ bật đèn gầm, không bật đèn chiếu sáng ra đón H và Ph; V điều khiển xe ô tô tải chạy trên đường bờ kênh từ khu vực biên giới hướng ra cầu Gò Ngãi, khi cách cầu Gò Ngãi khoảng 40 mét thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện; người đàn ông Campuchia điều khiển xe mô tô bỏ chạy thoát.
Tại Công văn số 2474/SCT-QLTM ngày 29/9/2023 của Sở Công thương tỉnh Tây Ninh xác định: Theo quy định tại phần II, phụ lục 1 Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu được ban hành kèm theo Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ thì mặt hàng đường cát và bia không thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, cấm kinh doanh. Tuy nhiên, để được phép kinh doanh, mua, bán tại Việt Nam phải thực hiện các thủ tục hải quan nhập theo đường chính ngạch.
Tại Công văn số 2082/HQTN-NV ngày 29/9/2023 của Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh xác định: Qua rà soát, từ ngày 01/02/2023 đến 11/8/2023, trên địa bàn Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh không phát sinh việc thực hiện thủ tục nhập khẩu các mặt hàng nêu trong Công văn số 2365/CATX ngày 23/9/2023 của Công an thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Kết luận định giá tài sản số 61/KLĐG ngày 21/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, kết luận: 120 bao đường, nhãn hiệu “CAMBODIA WHITE SUGAR, mỗi bao có trọng lượng 50kg, gồm: 23 bao có ký hiệu: BATCH NO.00000001, MFG: 04/02/23, EXP: 04/02/26 và 97 bao có ký hiệu BATCH NO.00000002, MFG: 05/02/23, EXP: 05/02/26 không có tem, nhãn Tiếng Việt (chưa qua sử dụng), tại thời điểm ngày 11/8/2023 trị giá 139.200.000 đồng; 30 thùng bia, nhãn hiệu “GOLD CROWN BEER”, mỗi thùng có chứa 24 lon, có thể tích 330ml/1 lon, trên mỗi thùng có ký hiệu “BBE 8/8/24, P080823B”, không có tem, nhãn Tiếng Việt (chưa qua sử dụng), tại thời điểm ngày 11/8/2023 trị giá 5.700.000 đồng. Tổng cộng: 144.900.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSTrB ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Mai Văn V về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Mai Văn V từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp: đề nghị căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố đã thể hiện rõ yêu cầu, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
Về hành vi của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại khu vực ấp BQ, xã PB, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Mai Văn V đã thực hiện một công đoạn trong quá trình vận chuyển trái phép 120 bao đường cát nhãn hiệu “CAMBODIA WHITE SUGER” và 30 thùng bia nhãn hiệu “GOLD CROWN BEER”, tổng trị giá 144.900.000 đồng từ khu vực biên giới Campuchia vào nội địa Việt Nam để tiêu thụ thì bị kiểm tra, phát hiện.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hành vi của bị cáo Mai Văn V phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và nền kinh tế quốc gia, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Do đó, cần thiết phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội nên chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo không có tài sản, không có công việc ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
Đối với bà Trần Thị Nh là chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 62C - 005.62, bà Như không biết bị cáo V sử dụng xe ô tô tải này thực hiện hành vi phạm tội nên không đề nghị xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Thành Ph, Hoàng Kim H không biết và không tham gia vận chuyển đường và bia cùng với Mai Văn V nên không đề cập xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với: 120 bao đường, nhãn hiệu “CAMBODIA WHITE SUGAR, mỗi bao có trọng lượng 50kg, gồm: 23 bao có ký hiệu: BATCH NO.00000001, MFG: 04/02/23, EXP: 04/02/26 và 97 bao có ký hiệu BATCH NO.00000002, MFG: 05/02/23, EXP: 05/02/26 không có tem, nhãn Tiếng Việt (118 bao chưa qua sử dụng; 02 bao lấy mẫu phục vụ công tác giám định) và 30 thùng bia, nhãn hiệu “GOLD CROWN BEER”, mỗi thùng có chứa 24 lon, có thể tích 330ml/1 lon, trên mỗi thùng có ký hiệu “BBE 8/8/24, P080823B”, không có tem, nhãn Tiếng Việt (29 thùng chưa qua sử dụng, 01 thùng lấy mẫu phục vụ công tác giám định) là hàng hóa bị cáo vận chuyển trái phép qua biên giới nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với: 01 giấy phép lái xe số 790187044761; Họ tên: Mai Văn V; Ngày sinh: 13/08/1998; Nơi cư trú: Bình Tả 2, X. Đức Hòa Hạ.H. Đức Hòa, T. Long An; hạng B2; có giá trị đến 01/03/2028 (bản chính) không liên quan đến tội phạm nên trả cho bị cáo Vượn.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Văn V 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Long An nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án Hình sự.
Miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã ĐH, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã ĐH trong việc giám sát, giáo dục người đó.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
2.1. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 120 (một trăm hai mươi) bao đường, nhãn hiệu “CAMBODIA WHITE SUGAR, mỗi bao có trọng lượng 50kg, gồm: 23 (hai mươi ba) bao có ký hiệu: BATCH NO.00000001, MFG: 04/02/23, EXP: 04/02/26 và 97 (chín mươi bảy) bao có ký hiệu BATCH NO.00000002, MFG: 05/02/23, EXP: 05/02/26 không có tem, nhãn Tiếng Việt (118 bao chưa qua sử dụng; 02 bao lấy mẫu phục vụ công tác giám định);
- 30 (ba mươi) thùng bia, nhãn hiệu “GOLD CROWN BEER”, mỗi thùng có chứa 24 lon, có thể tích 330ml/1 lon, trên mỗi thùng có ký hiệu “BBE 8/8/24, P080823B”, không có tem, nhãn Tiếng Việt (29 (hai mươi chín) thùng chưa qua sử dụng, 01 (một) thùng lấy mẫu phục vụ công tác giám định).
2.2. Trả cho bị cáo Mai Văn V: 01 (một) giấy phép lái xe số 790187044761; Họ tên: Mai Văn V; Ngày sinh: 13/08/1998; Nơi cư trú: BT 2, X. Đức Hòa Hạ.H. Đức Hòa, T. Long An; hạng B2; có giá trị đến 01/03/2028 (bản chính).
3. Án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Mai Văn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao TP.HCM; - Phòng KTNV. TATTN; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Cơ quan Thi hành án Hình sự; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Phân trại tạm giam khu vực thị xã Trảng Bàng; - Ủy ban nhân dân xã ĐH, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Minh Thư |