- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị THuý - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 26 - 3- 2025 |
NHÂN DÂNH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân :
1.Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh
2. Ông Lê Văn Lợi
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thu – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/HSST ngày 14/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2024; Đối với bị cáo: Lê Thị T; Sinh ngày 28 tháng 12 năm 1986 (có mặt). Số CCCD số: 038186013845; Nơi cư trú: TP-QX. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tình:Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Khắc D và bà Phạm Thị V. Gia đình có 03 chị em bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn N sinh năm 1978, bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2027. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người làm chứng: Ông Phạm Tuấn A , sinh năm 1990 (vắng mặt)
Chức vụ: Hiệu trưởng Trường TH,THCS,THPT Nonel School3
Địa chỉ: Tổ dân phố Đông Đa 2, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thnh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau;
Khoảng tháng 07 năm 2024 Lê Thị T lên mạng xã hội Facebook tìm mua bằng tốt nghiệp đại học giả. Sau khi tìm được tài khoản facebook quảng cáo bán bằng tốt nghiệp đại học giả. T sử dụng điện thoại Oppo A55 màu xanh ngọc, nhắn tin liên hệ và gửi số điện thoại 0971086785 zalo “Thuy Le” để kết bạn với zalo “ Huy Tuấn” để trao đổi. T mua một bằng tốt nghiệp đại học và 01 bảng điểm với giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Thoả thuận gửi qua đường bưu điện khi nào nhận hàng thì thanh toán tiền.
Ngày 12/7/2024 T nhận được bưu phẩm có mã bưu gửi EW706387281VN, thông tin người gửi: Nguyễn Hữu Thế-hàng hiệu xuất khẩu, địa chỉ 793/28 Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh bên trong có 01 bằng tốt nghiệp đại học hệ cử nhân, ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học, hình thức đào tạo: Chính quy, số hiệu A073729, số vào sổ cấp bằng:1347 và một bảng điểm kết quả học tập đều mang tên Lê Thị T do Trường Đại học Hồng Đức cấp ngày 01/8/2010. Sau khi kiểm tra đúng giấy tờ giả đã đặt mua T thanh toán cho nhân viên bưu điện số tiền 1.800.000đ.
Khoảng giữa tháng 7 năm 2024 T sử dụng bằng tốt nghiệp giả đã mua để làm hồ sơ xin việc vào vị trí giáo viên tiểu học của trường TH, THCS và THPT Nobel School 3, địa chỉ Ttổ dân phố Đông Đa 2, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
Ngày 17/7/2024 T được tuyển dụng với mức lương 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) một tháng. Bắt đầu làm việc chính thức từ ngày 01/8/2024, ngày 15/8/2024 T đã nhận một phần lương là 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Tại bản kết luận giám định số: 4197/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Phôi “BẰNG TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC” mẫu cần giám định (ký hiệu A) được làm bằng phương pháp in phun màu. Bằng tốt nghiệp đại học mẫu cần giám định (ký hiệu A) là giả bao gồm hình dấu, chữ ký. Dấu hình tròn, chữ ký dưới mục “HIỆU TRƯỞNG” được làm bằng phương pháp in phun màu.
Ngày 04/9/2024 Cơ quan Công an huyện Quảng Xương phát hiện hành vi sử dụng giấy tờ giả và thu giữ 01 bằng tốt nghiệp đại học hệ cử nhân, ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học, hình thức đào tạo: Chính quy, số hiệu A073729, số vào sổ cấp bằng:1347 và mang tên Lê Thị T do Trường Đại học Hồng Đức cấp ngày 01/8/2010.
Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ; -01 bằng tốt nghiệp đại học hệ cử nhân, ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học, hình thức đào tạo: Chính quy, số hiệu A073729, số vào sổ cấp bằng:1347 mang tên Lê Thị T do Trường Đại học Hồng Đức cấp ngày 01/8/2010. -01 điện thoại Oppo A55 màu xanh ngọc IMEI 1:867143063127013,IMEI 2:867143063127005, seri IZ557TWG9PNJOF đã qua sử dụng có lắp sim số 0971086785
Đối với 01 bảng điểm giả T đã mua không sử dụng nên T đã vứt bỏ cơ quan điều tra không thu giữ được.
Trách nhiệm dân sự: Trường TH, THCS và THPT Nobel School 3 không yêu cầu T hoàn trả số lương 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Tại cáo trạng số: 18/CT-VKSQX ngày 12 tháng 02 năm 2025 đã truy tố Lê Thị T về “Tội sử dụng tài liệu giả của quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối hận xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được tự cải tạo tại địa phương vì còn có hai con nhỏ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm nhân dân huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 341; Điểm s, i khỏan 1 Điều 51; Điều 65 của BLHS đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm “Tội Sử dụng tài liệu giả của quan tổ chức”. Đề nghị cho bị cáo Lê Thị T hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” và “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khỏan 1 Điều 51 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại sử dụng vào việc phạm tội.
Tịch thu 01 bằng giả quy trữ trong hồ sơ là tài liệu chứng cứ vụ án Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Hữu Thế sinh năm 1995 trú tại Ấp Cây Ổi, xã Tập Ngãi, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh cùng đồng phạm làm giấy tờ giả bán cho bị cáo T. Hành vi của Nguyễn Hữu Thế và đồng phạm đã bị cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương đã chuyển toàn bộ tài liệu liên quan đến hành vi làm giả giấy tờ bán cho bị cáo T đến cho Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh để phục vụ điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về Tội danh: Bị cáo Lê Thị T đã mua 01 bằng tốt nghiệp đại học hệ cử nhân, ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học, hình thức đào tạo: Chính quy, số hiệu A073729, số vào sổ cấp bằng:1347 mang tên Lê Thị T do Trường Đại học Hồng Đức cấp ngày 01/8/2010 là bằng giả. Sử dụng làm hồ sơ xin việc vào Trường TH, THCS và THPT Nobel School 3 đã nhận lương 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
Đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Thị T phạm “Tội sử dụng tài liệu giả của quan tổ chức” theo quy định khoản 1 Điều 341 của bộ luật hình sự.
Vì vậy Viện kiểm nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Lê Thị T như cáo trạng số:18/CT-VKSQX ngày 12 tháng 02 năm 2025 là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Thị T: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo cáo Lê Thị T được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo” và “ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khỏan 1 Điều 51 của BLHS.
Về hình phạt. Bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nhiều tình tiết giảm nhẹ. HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cho bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ giáo dục bị cáo thành người tốt.
Về vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu quy trữ lưu hồ sơ vụ án 01 bằng tốt nghiệp đại học hệ cử nhân, ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học, hình thức đào tạo: Chính quy, số hiệu A073729, số vào sổ cấp bằng:1347 mang tên Lê Thị T do Trường Đại học Hồng Đức cấp ngày 01/8/2010 là bằng giả.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Oppo A55 màu xanh ngọc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo Lê Thị T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Khoản 1, 3 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ: Khoản 1 Điều 341; Điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điểm a khoản 1 Điều 47 và Khoản 1, 2 ,5 Điều 65 của BLHS;
-Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
-Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
3. Xử phạt bị cáo Lê Thị T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị T cho UBND TP, huyện QX, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục bị cáo trong thời giam thử thách. Gia đình ông Lê Khắc D và bà Phạm Thị V có trách nhiệm phối hợp với UBND TP, huyện QX, tỉnh Thanh Hoá trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
4.Về vật chứng: Tịch thu quy trữ lưu hồ sơ vụ án 01 bằng tốt nghiệp đại học hệ cử nhân, ngành đào tạo: Giáo dục tiểu học, hình thức đào tạo: Chính quy, số hiệu A073729, số vào sổ cấp bằng:1347 mang tên Lê Thị T do Trường Đại học Hồng Đức cấp ngày 01/8/2010 là bằng giả.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Oppo A55 màu xanh
ngọc, IMEI1:867143063127013,IMEI2: 867143063127005SERI: IZ557TWG9P7PNJOF đã qua sử dụng, lắp sim số 0971086785 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội được đựng trong 01 phong bì thư do Công an huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá phát hành, phong bì được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Thị T, Bùi Ngọc Dũng, Lê Đình Nguyên cùng 04 hình con dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Xương. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương.
5.Về án phí. Bị cáo Lê Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)
Án sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND cùng cấp; - Phòng 7 Viện kiểm sát tỉnh; -Chi cục thi hành án dân sự huyện QX - …. - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN PHIấN TềA Lờ Thị Hiền Cao Xuõn Bằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quyên HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Trần Thị Quyờn |