vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà NTKT về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông ĐVT.

Về quan hệ hôn nhân: Bà NTKT được ly hôn với ông ĐVT. Về con chung: Giao con chung ĐHT, sinh ngày 23/3/2022 cho bà NTKT trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà NTKT về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông ĐVT.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2025/HNGĐST
Ngày: 14/5/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Thanh Dung.

2. Ông Nguyễn Văn Thư.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2025, quyết định hoãn phiên toà số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà NTKT, sinh năm: 1997, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Q.

2. Bị đơn: Ông ĐVT, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Q.

Bà NTKT có mặt, ông ĐVT vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà NTKT trình bày:

Bà NTKT và ông ĐVT tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Giang vào năm 2021. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, ông ĐVT nợ nần không lo cho kinh tế gia đình. Nay NTKT cảm vợ chồng đã hết bà NTKT làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông ĐVT.

Về con chung: Bà NTKT và ông ĐVT có một con chung tên ĐHT, sinh ngày 23/3/2022. Nếu ly hôn, bà NTKT yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông ĐVT trình bày: Bà NTKT làm đơn ly hôn, vợ chồng không hoà giải được nên ông ĐVT thống nhất ly hôn. Về con chung có một cháu tên ĐHT, sinh năm 2022, ông ĐVT yêu cầu được nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng do bà NTKT đã có con riêng và không có công việc ổn định. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ ông ĐVT không có ý kiến yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà NTKT được ly hôn ông ĐVT. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung ĐHT, sinh ngày 23/3/2022 cho bà NTKT trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà NTKT phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà NTKT có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông ĐVT. Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn thì ông ĐVT có đăng ký thường trú tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà NTKT và ông ĐVT tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Giang, huyện Núi Thành vào năm 2021. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà NTKT và ông ĐVT là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà NTKT là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hòa giải cho hai bên khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ. Ông ĐVT đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông không đến Toà án mà không có lý do, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được. Điều này thể hiện ý chí của ông ĐVT không mong muốn hoà giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Ngoài ra, tại bản tự khai ngày 12/2/2025, ông ĐVT thừa nhận vợ chồng không thể hoà giải nên đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà NTKT và ông ĐVT đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà NTKT được ly hôn với ông ĐVT là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: bà NTKT và ông ĐVT có một con chung tên ĐHT, sinh ngày 23/3/2022. Cả bà NTKT và ông ĐVT đều yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: việc giao con cho ai nuôi phải xem xét với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ, cần phải xem xét toàn diện mọi mặt để đưa ra phán quyết phù hợp với quy định của pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Cháu ĐHT còn nhỏ, chỉ mới 37 tháng 21 ngày (tại thời điểm xét xử), rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặc khác từ khi sinh ra đến nay, ông ĐVT làm nghề câu mực xa bờ, bà NTKT là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Thiện đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Do vậy, xét giao cháu ĐHT, sinh ngày 23/3/2022 cho bà NTKT trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu ĐHT đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà NTKT cam đoan có đủ khả năng kinh tế nuôi con và các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà NTKT phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà NTKT về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông ĐVT.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà NTKT được ly hôn với ông ĐVT.

2. Về con chung: Giao con chung ĐHT, sinh ngày 23/3/2022 cho bà NTKT trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt vấn đề giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà NTKT phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà NTKT đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006985 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

6. Về quyền kháng cáo: bà NTKT có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông ĐVT có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ