- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho Chị Vi Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 8 - 2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Hồng Long, Ông Trần Doãn Xuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 59/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vi Thị M, sinh năm 1997. Có mặt.
Nơi đăng ký NKTT: Th 2, xã T Đ, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là Th 2, xã Nh H, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú hiện nay: Bản T, thị trấn Trà L, huyện C C, tỉnh Nghệ An. Nay là Bản T, xã C C, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1981. Vắng mặt.
Địa chỉ: Th 2, xã T Đ, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là Th 2, xã Nh H, tỉnh Nghệ An.
Người làm chứng: Bà Lương Thị Th, sinh năm 1955. Vắng mặt.
Địa chỉ: Th 2, xã T Đ, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là Th 2, xã Nh H, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 27/4/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Chị Vi Thị M trình bày:
- Về tình cảm: chị và bị đơn anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau vào ngày 22 tháng 01 năm 2014 tại UBND xã Tam Sơn, huyện A S, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nh H, tỉnh Nghệ An Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không hòa hợp, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thiếu sự thấu hiểu chia sẻ lẫn nhau. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng. Vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H.
- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung tên là Hoàng Thị Thu Th, sinh ngày 17/3/2016 và Hoàng Đức Th, sinh ngày 30/8/2018. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con Hoàng Thị Thu Th, còn con Hoàng Đức Th thì giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung: vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: vợ chồng chị không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Hoàng Văn H vắng mặt mặc dầu đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Hoàng Thị Thu Th trình bày: cháu là con mẹ Vi Thị Mơ và bố Hoàng Văn H, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
Tại phiên tòa hôm nay, người làm chứng bà Lương Thị Th vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, bà trình bày: bà là mẹ đẻ của anh H, còn chị M là con dâu. Anh H và chị M kết hôn vào năm 2014 tại UBND xã Tam Sơn, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung với gia đình bà, sau đó thì ra ở riêng, cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị M ngoại tình với người đàn ông khác. Vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa, chị M về sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị M, anh H hiện đang đi làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh, thi thoảng có về thăm gia đình còn bình thường liên lạc qua điện thoại. Việc chị M yêu cầu ly hôn thì anh H có biết, nhưng anh không đồng ý ly hôn, còn về con, anh H có nguyện vọng được nuôi cả hai con, các vấn đề khác anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận đơn ly hôn của Chị Vi Thị M. Buộc Chị Vi Thị M và anh Hoàng Văn H chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: giao con chung tên là Hoàng Thị Thu Th cho Chị Vi Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành, giao con chung tên là Hoàng Đức Th cho anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Về tài sản chung: Chị Vi Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Chị Vi Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn: bị đơn hiện cư trú tại Th 2, xã T Đ, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Nay là Th 2, xã Nh H, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân khu vực 9 thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Hoàng Văn H đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã Nh H, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét Chị Vi Thị M và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau vào 22 tháng 01 năm 2014 tại UBND xã Tam Sơn, huyện A S, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nh H, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa chị M và anh H là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị M nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính cách không hòa hợp, trong cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thiếu sự thấu hiểu chia sẻ lẫn nhau. Tại phiên tòa anh H vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng chị M và anh H thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, chị M và anh H đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng.
Xét thấy, giữa chị M và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị M được ly hôn với anh H.
Về con chung: chị M và anh H có 02 người con chung tên là Hoàng Thị Thu Th, sinh ngày 17/3/2016 và Hoàng Đức Th, sinh ngày 30/8/2018. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị M vẫn giữ nguyên nguyện vọng được nuôi con con Hoàng Thị Thu Th, còn con Hoàng Đức Th thì giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh H có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất và tinh thần. Như vậy nguyện vọng của chị M và anh H là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con, căn cứ vào lời trình bày của chị M về điều kiện nuôi con thấy rằng: hiện nay chị đang làm công nhân cho công ty dược liệu Pù Mát có đại chỉ tại thôn Tiến Thành, xã C C, tỉnh nghệ An, nhập ổn định với mức trung bình 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng. Mặt khác qua xác minh tại người nhà cũng như tại địa phương thấy rằng, hiện nay anh H đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt ở địa phương nên việc giao cả hai con cho anh H nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho con. Vì vậy để hài hòa giữa quyền của người cha và người mẹ cũng như để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần cần chấp nhận giao con chung là Hoàng Thị Thu Th cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Hoàng Đức Th cho anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Vi Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho Chị Vi Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn H.
- Về con chung: giao con chung tên là Hoàng Thị Thu Th, sinh ngày 17/3/2016 cho Chị Vi Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thảo tròn 18 tuổi, trưởng thành; Giao con chung Hoàng Đức Th, sinh ngày 30/8/2018 cho anh Hoàng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thịnh tròn 18 tuổi, trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Anh H, chị M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Chị M, anh H cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Lê Thị Giang phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A S, tỉnh Nghệ An (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Nghệ An) theo biên lai thu tiền số 0008070 ngày 16 tháng 4 năm 2025.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
Đã ký
- UBND xã Thọ Sơn;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã Thọ Sơn;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã Nghi Công Nam;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã T Đ;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã T Đ;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã Phúc Sơn;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Anh Sơn; - Chi cục THADS H. Anh Sơn; - UBND xã Cẩm Sơn; - Lưu Hồ sơ, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Hồng Lợi |