- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H và Phạm Thanh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 22 - 9 - 2025. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỤC 3 - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Phiếu.
- Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.
- Thư ký phiên toà: bà Giang Thị Mến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Ngần - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 8a/2025/q®XXst-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/QĐST-NHGĐ ngày 29/8/2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện G (nay là thôn Q, xã Đ), tỉnh Ninh Bình.
*Bị đơn: anh Phạm Thanh T, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: phố H, thị trấn N, huyện N (nay là thôn Hòe Thị, xã Nho Quan),
tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên tòa chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 02 năm 2025, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Thanh T đăng ký kết hôn ngày 15/3/2002, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nho Quan, huyện Nho Quan trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh T tại phố Hòe Thị, thị trấn Nho Quan, huyện Nho Quan. Vợ chồng chung hạnh phúc được khoảng 14 năm thì phát sinh mâu, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh T thường xuyên rượu chè, cờ bạc, không tu chí làm ăn; dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Năm 2014, anh chị sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Đến naychị xác định không còn tình cảm với anh T, khong thể hàn gắn về đoàn tụ được. Chị giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Phạm Thanh T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung, là cháu Phạm Minh Hùng sinh ngày 02/6/2003 và cháu Phạm Thị Thanh Huyền sinh ngày 26/10/2004; hiện nay hai cháu đều đã trên 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được cuộc sống. Chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Thanh T cố tình vắng mặt không lý do, không nộp bản tự khai và các tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Tòa án đã xác minh và làm việc với bà Hứa Thị Hoa là mẹ đẻ của anh Phạm Thanh T. Tại biên bản làm việc ngày 11/6/2025 bà Hoa cung cấp thông tin như sau: anh Phạm Thanh T là con trai bà, chị Trần Thị H là con dâu; anh chị được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nho Quan, sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng gia đình bà ở phố Hòe Thị, thị trấn Nho Quan, nhưng ăn riêng. Sau một thời gian gia đình bà cho anh chị một thổ đất, anh chị làm nhà ở riêng. Trong quá trình anh chị chung sống bà cũng không thấy có mâu thuẫn gì lớn. thời gian gần đây bà thấy chị H về nói với bà là anh T rượu chè chè về chửi mắng chị, chị H xác định tình cảm đối với anh T không còn chị xin ly hôn; về con chung anh chị có 02 con chung, hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, về tài sản anh chị có nhà đất riêng, chị H có nói với bà về tài sản chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết mà để lại cho anh T và các con. Anh T thường đi làm ăn xa, anh có biết việc chị H xin ly hôn, giấy tờ Tòa án gửi bà nhận và đã giao tận tay anh T, quan điểm của anh T là không muốn ly hôn vì anh chị cũng đã lớn tuổi, các con đều đã trưởng thành. Quan điểm của bà việc này do hai anh chị tự giải quyết, bà không can thiệp.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị H xác định tình cảm không còn, chị giữ nguyên quan điểm xin ly hôn và có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phạm Thanh T cố tình vắng mặt, Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần theo đúng quy định của pháp luật
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
* Về thủ tục tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện và chấp hành quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật.
* Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5; Điều 147; Điều 227; Điều 228; 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Phạm Thanh T.
- Về con chung: chị Trần Thị H xác định hiện nay 02 con chung của anh chị đều trên 18 tuổi, trưởng thành , tự lập được cuộc sống, chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về con chung.
- Tài sản, công nợ chung: chị H không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình, loại việc: “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Phạm Thanh T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần theo đúng quy định của pháp luật, song anh T cố tình vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Phạm Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nho Quan, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình ngày 13/5/2002, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thời gian anh chị chung sống hạnh phúc khoảng 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Khi mâu thuẫn phát sinh bản thân hai anh chị không tự nhìn nhận lại bản thân, để khắc phục những thiếu sót của mình để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, mà mỗi người vẫn giữ nguyên quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Từ khoảng năm 2014, chị H và anh T sống ly thân không ai quan tâm tới ai. Anh Phạm T không lên Tòa án làm việc, điều đó chứng tỏ anh T không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Chị Trần Thị H giữ nguyên quan điểm tình cảm giữa chị và anh T không còn, không thể tiếp tục cùng nhau chung sống. Đủ cơ sở khẳng định, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 các Điều 19 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: chị Trần Thị H xác định hiện nay 02 con chung của anh chị đều trên 18 tuổi, trưởng thành , tự lập được cuộc sống, chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về con chung.
. Về Tài sản, công nợ chung: chị H không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Áp dụng khoản 1 các Điều 19 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Phạm Thanh T.
2 Về con chung: chị Trần Thị H xác định hiện nay 02 con chung của anh chị đều trên 18 tuổi, trưởng thành , tự lập được cuộc sống, chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về con chung.
3. Về Tài sản, công nợ chung: chị H không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000954 ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Ninh Bình).
4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H và anh Phạm Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các Đương sự; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 3, tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Nho Quan; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Vũ Quang Chung. |